Cơ sở thực tiễn xác định các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020
Chủ nhiệm:
ThS. Nguyễn Văn Hồi
Năm đăng ký:
2015
Năm nghiệm thu:
2016
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, năm 1991 Đảng ta đã công bố cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong cương lĩnh đã khẳng định: "Chính sách xã hội đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất... có chính sách bảo trợ và điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân cư, các ngành và các vùng". Tiếp đến, trong Nghị quyết của Đại hội IX và Đại hội X cũng đã từng bước cụ thể hoá những chính sách ASXH, trong đó có chính sách TGXH và cứu trợ xã hội. Đặc biệt tại Đại hội XI, Đảng ta đã làm rõ hơn quan điểm, định hướng và nội dung cụ thể của từng chính sách ASXH. Nghị quyết của nhiệm kỳ Đại hội này đã chỉ rõ: "Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT, BHTN, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống... Chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng. Bảo đảm cho các đối tượng BTXH có cuộc sống ổn định, hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu". Những quan điểm này vừa có tính toàn diện và đồng bộ, vừa có tính chỉ đạo để nhà nước tổ chức thực hiện các chính sách ASXH nói chung, trong đó có chính sách TGXH.
Tính đến tháng 12/2015, thực hiện Nghị định số 136/2013/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật, cả nước đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trên 2,643 triệu đối tượng. Trong đó: 37.348 trẻ em mồ côi, 88.594 người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo, 1.480 ngàn người cao tuổi trên 80 tuổi không có lương hưu, trợ cấp BHXH, 896.644 người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, 69.257 gia đình, cá nhân nhận chăm sóc tại cộng đồng, 8.185 người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo.
Để thực hiện tốt công tác trợ giúp xã hội, việc xác định đúng các mục tiêu và nhiệm vụ cho từng giai đoạn là rất cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát hiệu quả hệ thống quản lý, đánh giá việc thực hiện chính sách đã ban hành. Qua rà soát, hệ thống chỉ tiêu hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế về khả năng thu thập, thiếu một số chỉ tiêu thống kê, chưa thống nhất trong cách hiểu hay cách tính. Như vậy, thực hiện đề tài khoa học này là một phần quan trọng để đánh giá lại và xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ cho giai đoạn mới, hướng đến thực hiện Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 01/6/2012 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa XI: "Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân".
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đưa ra được các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020.
- Đề xuất các giải pháp để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện.
3. Kết cấu đề tài: Gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận xây dựng và đánh giá các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ về trợ giúp xã hội.
Chương II: Thực trạng xây dựng và thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ về lĩnh vực trợ giúp xã hội.
Chương III: Khuyến nghị các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020.
4. Nội dung của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở lý luận xây dựng và đánh giá các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ về trợ giúp xã hội
Chương I hệ thống hóa các khái niệm, làm rõ sự khác biệt giữa mục tiêu TGXH (phương hướng và kết quả cần đạt trong khoảng thời gian nhất định), chỉ tiêu TGXH (đơn vị lượng hóa, đo đếm mức độ đạt mục tiêu), nhiệm vụ TGXH (công việc phải hoàn thành để đạt mục tiêu, chỉ tiêu) và chỉ số (thước đo không mang giá trị tự thân, thay đổi theo kỳ đo lường). Khung phân tích xây dựng theo cấu trúc phân cấp từ mục đích ngành, mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, chính sách.
Bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ TGXH được phân tích:
(1) Hệ thống thể chế chính sách — với hơn 10 bộ luật, 7 pháp lệnh, trên 30 nghị định quy định khuôn khổ pháp lý;
(2) Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn kết với phát triển an sinh xã hội;
(3) Biến đổi khí hậu và thiên tai — dự báo đến 2100 nhiệt độ trung bình tăng 3 độ C, mực nước biển dâng 1m, ảnh hưởng khoảng 10% dân số;
(4) Nguồn lực thực hiện (nhân lực, kinh phí, công nghệ thông tin).
Sáu tiêu chí đánh giá chất lượng hệ thống chỉ tiêu được xác lập gồm: tính phù hợp, chính xác, kịp thời, khả năng tiếp cận, khả năng giải thích và tính chặt chẽ. Các phương pháp dự báo định lượng gồm ngoại suy xu thế, hàm phân phối và mô hình hóa được áp dụng để lượng hóa nhu cầu TGXH cho từng nhóm đối tượng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy xu hướng chuyển từ trợ giúp dựa trên nhân đạo sang bảo đảm quyền, tiếp cận vòng đời và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng, từ đó rút ra bài học về tầm quan trọng của hệ thống chỉ tiêu chuẩn hóa và cơ chế giám sát độc lập.
4.2. Chương II: Thực trạng xây dựng và thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ về lĩnh vực trợ giúp xã hội
Chương II đánh giá toàn diện hệ thống chỉ tiêu và kết quả thực hiện TGXH. Về pháp quy, đã hình thành 5 chỉ tiêu thống kê quốc gia về bảo trợ xã hội (Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg) và hệ thống chỉ tiêu ngành (Thông tư số 30/2011/TT-BLĐTBXH) gồm các nhóm chỉ tiêu về kinh phí TGXH, số cơ sở bảo trợ xã hội, số đối tượng được cấp thẻ BHYT, số hộ nghèo. Cục Bảo trợ xã hội là cơ quan đầu mối thu thập và báo cáo hàng năm.
Giai đoạn 2008-2014, hệ thống TGXH đạt nhiều kết quả tích cực: số đối tượng được nhận trợ giúp xã hội thường xuyên tăng 2,6 lần (từ 1,097 triệu lên 2,697 triệu người); chi ngân sách nhà nước cho TGXH chiếm 1,208% GDP năm 2014, tổng kinh phí đạt trên 50 nghìn tỷ đồng; số người khuyết tật nặng được nhận trợ cấp tăng gấp hơn 3 lần; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,9% năm 2014. Tuy nhiên, mức trợ cấp bình quân chỉ đạt khoảng 60% mức sống tối thiểu và dưới 20% so với mức sống trung bình.
Đánh giá hệ thống chỉ tiêu chỉ ra những hạn chế cơ bản:
(1) Thiếu tính nhất quán trong định nghĩa, khái niệm giữa các chỉ tiêu;
(2) Nhiều chỉ tiêu khó thu thập, mang tính ước lượng, độ tin cậy chưa cao;
(3) Hệ thống báo cáo hành chính từ cấp xã lên không có nguồn số liệu độc lập kiểm chứng và thiếu tính khách quan;
(4) Chưa có chỉ tiêu phản ánh xu hướng biến động và tương quan với yếu tố bên ngoài hệ thống;
(5) Phối hợp liên ngành trong thu thập, chia sẻ thông tin còn lỏng lẻo.
Hệ thống đánh giá còn rất yếu, chủ yếu thực hiện trong phạm vi dự án/chương trình, không có hoạt động đánh giá chính sách độc lập.
4.3. Chương III: Khuyến nghị các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020
Xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 (GDP dự kiến khoảng 250 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 2.200 USD/người năm 2020) và xu thế già hóa dân số, biến đổi khí hậu, cơ cấu lại nền kinh tế, Chương III xây dựng dự báo nhu cầu TGXH theo từng nhóm đối tượng. Đối với người cao tuổi: dự kiến 1,721 triệu người hưởng trợ cấp năm 2016, tăng lên 1,8 triệu người năm 2020 với kinh phí 6.534,6 tỷ đồng; mức trợ cấp 270.000 đồng/tháng cho nhóm từ 80 tuổi và 75-79 tuổi, 540.000 đồng/tháng cho người cao tuổi cô đơn nghèo. Đối với người khuyết tật: dự kiến 1,063 triệu người hưởng trợ cấp năm 2020 với kinh phí 4.464,5 tỷ đồng; mức trợ cấp 270.000 đồng/tháng cho người khuyết tật nặng, 540.000 đồng/tháng cho người khuyết tật đặc biệt nặng và người tâm thần.
Các chỉ tiêu chủ yếu được khuyến nghị cho giai đoạn 2016-2020:
(1) Bảo đảm 100% đối tượng đủ điều kiện được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ BHYT, tăng khoảng 20% so với năm 2015;
(2) 100% người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lụt, thiếu đói được trợ giúp đột xuất kịp thời;
(3) Trên 1,75 triệu người cao tuổi được hưởng trợ cấp xã hội;
(4) 100% người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp; 70.000 người được phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng; 300.000 người khuyết tật được học nghề và tạo việc làm;
(5) 80% cán bộ TGXH được tập huấn nâng cao năng lực;
(6) Tăng 50% đội ngũ cán bộ công tác xã hội; 100% tỉnh, thành phố có Trung tâm công tác xã hội.
Các nhiệm vụ chủ yếu đến năm 2020 gồm 9 nhóm:
(1) Xúc tiến xây dựng Luật Trợ giúp xã hội;
(2) Hoàn thiện chính sách trợ giúp thường xuyên theo tiếp cận vòng đời — mở rộng đối tượng người cao tuổi từ 75 tuổi, người khuyết tật có thu nhập thấp, trẻ em mồ côi và trẻ em dưới 36 tháng tuổi;
(3) Hoàn thiện chính sách trợ giúp đột xuất và khẩn cấp — phân cấp mạnh cho địa phương, hình thành quỹ dự phòng rủi ro cấp xã, huyện;
(4) Đổi mới chính sách chăm sóc xã hội — phát triển cơ sở chăm sóc cả công lập và ngoài công lập, ban hành danh mục dịch vụ và định mức chi phí;
(5) Hướng dẫn thực hiện các chương trình, đề án TGXH (Đề án 32, QĐ1215, QĐ647...);
(6) Củng cố đội ngũ cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp;
(7) Tăng cường truyền thông về TGXH;
(8) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về TGXH;
(9) Tăng cường theo dõi và đánh giá qua bộ chỉ tiêu tổng hợp.
Về nâng cao hiệu quả giám sát và đánh giá, đề tài khuyến nghị: xây dựng hệ thống chỉ số phù hợp cho từng nhóm đối tượng với phân chia chỉ tiêu lõi và chỉ tiêu bổ sung; hiện đại hóa quản lý đến cấp huyện/xã; ban hành cơ chế thu thập và báo cáo thực thi nghiêm túc; tiến hành điều tra riêng về ASXH/TGXH cấp quốc gia. Các giải pháp đổi mới tập trung vào: chuyển mạnh từ quan điểm nhân đạo sang bảo đảm quyền; nâng cao chất lượng chính sách theo tiếp cận vòng đời; gắn phát triển TGXH với cải cách thể chế hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin.
Thành viên đề tài:
ThS. Nguyễn Thị Yến, Chánh Văn phòng Cục; TS. Thái Phúc Thành, TS. Nguyễn Ngọc Toản, ThS. Tô Đức (các Phó Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội); TS. Bùi Sỹ Tuấn, Trưởng phòng Viện Khoa học Lao động và Xã hội; CN. Lê Hồng Liên, Chuyên viên Cục Bảo trợ xã hội.
Từ khóa:
trợ giúp xã hội bảo trợ xã hội mục tiêu chỉ tiêu nhiệm vụ an sinh xã hội
|
Tên file |
View |
|
CT2015-01-07.pdf
|
Đăng nhập để xem
|