Cơ sở thực tiễn xác định các mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020

Chủ nhiệm: CN. Trần Thị Bích Loan

Năm đăng ký: 2015

Năm nghiệm thu: 2016

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Ngay từ khi mới ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tư tưởng “nam nữ bình quyền” và coi đây là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam, đồng thời Đảng cũng chỉ rõ giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng” và Người đã kêu gọi đồng bào xóa bỏ mọi định kiến và bất công có tính “lịch sử” đối với phụ nữ. Đồng thời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “nam nữ bình quyền là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của Cách mạng Việt Nam. Xã hội không thể hoàn toàn tự do nếu phụ nữ không được tự do, phụ nữ cần đấu tranh để được bình đẳng với nam giới, nam giới cần phải tôn trọng phụ nữ”.

Thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng trong lĩnh vực bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, mục tiêu bình đẳng giới được sớm ghi nhận trong Hiến pháp nước ta từ năm 1946 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1959, 1980, 1992, 2002 và sửa đổi toàn diện vào năm 2013 với tinh thần kế thừa những quy định tốt đẹp trước đây và tiếp tục hoàn thiện, phát triển các quy định bảo đảm bình đẳng giới, bảo đảm quyền con người trên thực tế. Cụ thể, Điều 9 Hiến pháp 1946 đã quy định “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” và tại Điều 26 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã nêu rõ: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

Ngày 24 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 (sau đây gọi tắt là Chiến lược), theo đó xác định 7 mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và 22 chỉ tiêu cụ thể cần phải quan tâm giải quyết trong vòng 10 năm. Chính phủ cũng ban hành Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 (sau đây gọi tắt là Chương trình quốc gia) với 5 dự án cụ thể, nhằm hỗ trợ đặc biệt cho việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, là một trong những giải pháp quan trọng của việc thực hiện thành công Chiến lược. Căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Điều 2 Quyết định số 2351/QĐ-TTg, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các Bộ, ngành liên quan, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai Chiến lược trên phạm vi cả nước, bảo đảm gắn kết chặt chẽ với các chiến lược liên quan do các Bộ, ngành khác chủ trì thực hiện; xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hằng năm về bình đẳng giới phù hợp với Chiến lược này và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020; hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện Chiến lược và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, có 63/63 địa phương và 29/30 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã ban hành kế hoạch hành động định kỳ 5 năm (giai đoạn 2011-2015) để triển khai thực hiện Chiến lược.

Ngày 14 tháng 10 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 56/2011/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia. Đây là công cụ thu thập số liệu thống kê giới nhằm giám sát và đánh giá tình hình phát triển giới, sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê giới của Chính phủ Việt Nam và các tổ chức, cá nhân.

Sau gần 4 năm thực hiện Chiến lược và Chương trình quốc gia, công tác bình đẳng giới đã đạt kết quả đáng ghi nhận. Nhiều chỉ tiêu đề ra đến năm 2015 tại Chiến lược đã đạt và vượt kế hoạch. Trên bình diện chung, phụ nữ và nam giới đã có sự tham gia và thụ hưởng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, công tác bình đẳng giới vẫn còn những hạn chế, nhiều chỉ tiêu, mục tiêu của Chiến lược chưa đạt, khó đạt hoặc không đánh giá được do thiếu số liệu thống kê. Điều này đang đặt ra những thách thức cho việc triển khai giai đoạn 2 của Chiến lược và đòi hỏi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cùng các cơ quan chức năng cần tiếp tục phối hợp rà soát, đánh giá để có những giải pháp tăng cường, bổ sung phù hợp cho việc thực hiện thành công Chiến lược trong giai đoạn 5 năm tới 2016-2020.

Việc triển khai nghiên cứu “Cơ sở thực tiễn xác định các mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực Bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020” là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay nhằm đánh giá một số kết quả đạt được sau gần 5 năm thực hiện Chiến lược, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc xác định các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu cho giai đoạn 2 triển khai Chiến lược; là cơ sở đánh giá, xem xét và điều chỉnh các chỉ tiêu cụ thể của Chiến lược và xác định các giải pháp cần tăng cường, bổ sung để thực hiện thành công các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được các nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của lĩnh vực bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020.

- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu về bình đẳng giới góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận xác định mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của lĩnh vực bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020.

Chương 2: Thực trạng việc các mục tiêu, nhiệm vụ bình đẳng giới trong giai đoạn 2011-2015.

Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận xác định mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của lĩnh vực bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận phục vụ việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020. Đề tài làm rõ các khái niệm cốt lõi (giới, giới tính, bình đẳng giới, định kiến giới, phân biệt đối xử về giới, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, lồng ghép giới, chỉ số phát triển giới GDI) cũng như mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu và chỉ tiêu trong hoạch định chính sách. Trên cơ sở hệ thống căn cứ pháp lý (Hiến pháp các thời kỳ, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Công ước CEDAW, Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 với 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 với 5 dự án thành phần), đề tài phân tích các nhóm yếu tố quốc tế và trong nước tác động đến việc xác định mục tiêu, chỉ tiêu bình đẳng giới; đồng thời xây dựng khung phân tích, phương pháp luận xác định chỉ tiêu (tiêu chí nhận dạng, yêu cầu của một chỉ tiêu tốt: cụ thể, lượng hóa được, khả thi, phù hợp, có thời hạn) và phương pháp dự báo kết hợp định tính - định lượng cho giai đoạn 2016-2020. Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm quốc tế của một số quốc gia (Australia với 6 lĩnh vực, 52 chỉ tiêu; Hàn Quốc với 9 lĩnh vực), từ đó rút ra các bài học tham khảo cho Việt Nam về tính xuyên suốt, tính khả thi và cơ sở khoa học khi xây dựng hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu bình đẳng giới.

4.2. Chương 2: Thực trạng việc các mục tiêu, nhiệm vụ bình đẳng giới trong giai đoạn 2011-2015

Chương 2 đánh giá thực trạng thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 theo 7 lĩnh vực của Chiến lược quốc gia: chính trị; kinh tế - lao động - việc làm; giáo dục - đào tạo; văn hóa - thông tin - thể dục thể thao; y tế; gia đình; và năng lực quản lý nhà nước. Đối với mỗi lĩnh vực, đề tài trình bày hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu cùng phương pháp tính, sau đó đối chiếu với số liệu thống kê thực tế đến năm 2015. Kết quả cho thấy nhiều chỉ tiêu đã đạt và vượt kế hoạch: tỷ lệ lao động nữ trong tổng số việc làm mới tạo ra đạt khoảng 48%; tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được vay vốn ưu đãi đạt 80%; tỷ số giới tính khi sinh được khống chế ở mức 112,2 trẻ trai/100 trẻ gái; tỷ số tử vong mẹ giảm còn khoảng 58,3/100.000 trẻ đẻ sống; tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiếp cận dịch vụ phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và tỷ lệ phá thai an toàn đều vượt chỉ tiêu; phần lớn đài phát thanh, truyền hình đã có chuyên mục về bình đẳng giới. Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu quan trọng vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị: tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII chỉ đạt 24,4% (giảm so với các khóa trước), tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp và tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt tại các Bộ, ngành, địa phương còn thấp so với chỉ tiêu Chiến lược; tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp mới đạt 24,9% so với mục tiêu 30%; khoảng cách giới trong phân công lao động gia đình và tình trạng bạo lực trên cơ sở giới vẫn còn tồn tại phổ biến. Trên cơ sở đó, đề tài phân tích các nguyên nhân, hạn chế chủ yếu: nhận thức về bình đẳng giới ở một số cấp ủy, chính quyền còn chưa đầy đủ; một số chỉ tiêu của Chiến lược được xây dựng cao hơn khả năng thực tế; công tác lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương chưa đồng bộ; hệ thống số liệu thống kê tách biệt giới còn thiếu và chưa kịp thời; đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở cấp cơ sở chủ yếu kiêm nhiệm, thiếu ổn định; nguồn kinh phí bố trí cho hoạt động bình đẳng giới còn hạn hẹp.

4.3. Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị

Chương 3 phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội quốc tế và trong nước giai đoạn 2016-2020 (xu thế hội nhập, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, dự báo tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5%/năm) cùng yêu cầu, xu hướng bình đẳng giới của thế giới (Mục tiêu phát triển bền vững số 5 - SDG5) và khuyến nghị của Ủy ban CEDAW đối với Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020.

Đề tài khuyến nghị giữ nguyên các chỉ tiêu đã thực hiện hiệu quả (tỷ lệ tạo việc làm mới cho mỗi giới, tín dụng ưu đãi cho phụ nữ nghèo nông thôn, tỷ lệ nữ thạc sĩ - tiến sĩ, các chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe, truyền thông và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình), đồng thời điều chỉnh các chỉ tiêu chưa phù hợp với điều kiện thực tế, nhất là nhóm chỉ tiêu về tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước theo hướng phân tách cụ thể theo từng cấp để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với các chỉ đạo mới của Đảng.

Trên cơ sở đó, đề tài xác định 3 nhóm nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn tới: (1) nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho cán bộ và người dân; (2) nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới; (3) đẩy mạnh công tác thống kê, báo cáo giới.

Đề tài cũng khuyến nghị các nhóm giải pháp về tuyên truyền, giáo dục pháp luật; bảo đảm kinh phí; lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chính sách; kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ; phát triển các mô hình, dịch vụ thúc đẩy bình đẳng giới; đồng thời đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách (trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định điều chỉnh mục tiêu, chỉ tiêu; xây dựng Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020; xây dựng kế hoạch triển khai khuyến nghị của Ủy ban CEDAW) và các giải pháp tổ chức thực hiện về công tác chỉ đạo, nâng cao năng lực thống kê, bảo đảm kinh phí và đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

 

Thành viên đề tài:

Th.S Nguyễn Thị Nga – Chuyên viên Vụ Bình đẳng giới; TS. Nguyễn Hữu Minh – Viện trưởng Viện Gia đình và Giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam; ThS. Hoàng Thị Thu Huyền – Phó Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; ThS. Nguyễn Bích Thúy – Giám đốc Trung tâm Lao động nữ, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; ThS. Nguyễn Hoành Nghĩa – Chuyên viên Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; CN. Nguyễn Việt Hải – Chuyên viên Vụ Bình

Từ khóa: Bình đẳng giới Mục tiêu Chỉ tiêu Nhiệm vụ chủ yếu

Tên file View
CT2015-01-05.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Đào Thị Ngọc Lợi

Lĩnh vực: Chính sách người có công và bình đẳng giới

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới chính sách ưu đãi người có công trong tình hình mới

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Bác sỹ CKII. Đào Ngọc Lợi

Lĩnh vực: Chính sách người có công và bình đẳng giới

Năm hoàn thành: 2021

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |