Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật
Chủ nhiệm:
Th.s Nguyễn Quang Hưng
Năm đăng ký:
2018
Năm nghiệm thu:
2018
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người khuyết tật (NKT) là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. NKT là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội do những rào cản về mặt tâm lý, thể chất, những định kiến xã hội khiến họ có ít cơ hội hòa nhập và tham gia lao động. Do vậy xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật giúp họ có cơ hội tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm không chỉ đảm bảo quyền được làm việc, mà còn tạo nhiềm tin vào khả năng cống hiến, tạo thu nhập để người khuyết tật có thể nuôi sống bản thân và giúp đỡ gia đình. Chính điều này sẽ giúp NKT sống có ích, có trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình và xã hội. Hiện nay, theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2016 của ủy Ban Quốc gia về NKT Việt Nam, có khoảng 7 triệu người khuyết tật từ 5 tuổi trở lên, chiếm khoảng 7,8% dân số; người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm 28,9%; khoảng 62% Người khuyết tật trong độ tuổi lao động (15-60), trong đó có 15% lao động được làm công ăn lương; 80% người khuyết tật hoạt động trong lĩnh vực phi chính thức không được trả lương; 75% người khuyết tật sống ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn có thu nhập thấp, không ổn định, cuộc sống khó khăn; Trong tổng số người khuyết tật 15 tuổi trở lên, chỉ có khoảng 5% đã được qua đào tạo nghề trong đó có 57% đào tạo trình độ sơ cấp nghề, khoảng 27% có trình độ trung cấp nghề, 16% có trình độ cao đẳng, đại học và có đến khoảng 95% người khuyết tật chưa được qua đào tạo nghề. Đây là vấn đề mà xã hội quan tâm, mong muốn được có phương án giải quyết.
Những năm gần đây, việc đào tạo nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật đã nhận được sự quan tâm của Nhà nước thông qua nhiều chính sách, ưu tiên hỗ trợ khác nhau. Tuy nhiên, đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật vẫn gặp nhiều khó khăn, với nhiều nguyên nhân khác nhau phần lớn người khuyết tật thường mặc cảm, tự ti nên không yên tâm khi xa gia đình đi học. Bên cạnh đó, nhiều gia đình người khuyết tật là hộ nghèo, ở nông thôn, dân trí thấp, nên không khuyến khích người khuyết tật đi học, tâm lí chỉ muốn để con em mình ở nhà và để trông nhà, hoặc làm các việc vặt khác... Vì vậy phần lớn người khuyết tật có việc làm không ổn định làm các công việc tạm thời lao động chân tay hoặc chủ yếu là tự tạo việc làm, làm việc trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo từ thiện... Rất ít NKT tìm được việc làm ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp,… hoặc làm các công việc đòi hỏi kỹ năng, trình độ chuyên môn cao nên thu nhập từ việc làm của người khuyết tật thường. Để có được việc làm trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt và nhiều áp lực với người bình thường đã khó nhưng với người khuyết tật một trong những nhóm người “yếu thế” của xã hội điều đó càng trở nên khó khăn hơn. Yếu tố khiến NKT khó cạnh tranh trong quá trình tìm kiếm việc làm, lại nằm ở chính những khiếm khuyết mà họ đang mang trong mình. Nhưng hơn ai hết NKT mong muốn được hoà nhập với cộng đồng, mong muốn được đóng góp vào sự phát triển của gia đình, cộng đồng và xã hội,…Vì vậy, điều cần thiết với NKT là được đào tạo nghề nghiệp để có thể tìm kiếm việc làm, có thu nhập nuôi sống bản thân, giảm áp lực cho gia đình và xã hội. Việc làm không chỉ đem lại niềm vui, thu nhập cho người khuyết tật, việc làm còn là cầu nối giúp họ tự tin, hòa nhập với cuộc sống.
Công tác đào tạo nghề nghiệp cho NKT rất khó khăn, tỷ lệ NKT có việc làm sau đào tạo còn rất hạn chế, phát sinh nhiều vấn đề (trình độ, thời gian, tâm lý…),…Có sự khác biệt rất lớn giữa đào tạo nghề nghiệp cho NKT và người bình thường về nhiều phương tiện (môi trường học, phương pháp dạy học, tổ chức dạy học,…). Vì vậy khi áp dụng mô hình đào tạo nghề nghiệp cho người bình thường vào NKT sẽ khó đạt mục tiêu đề ra. Cần có những nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp dành riêng cho NKT để có thể đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Đề xuất được một số mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả, phù hợp với các nhóm đối tượng khuyết tật nhẹ.
Mục tiêu cụ thể:
Phân tích rõ về mặt lý luận đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật, phù hợp với các dạng tật của người khuyết tật;
Kinh nghiệm xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật ở một số nước trên thế giới;
Đánh giá thực trạng việc đào tạo nghề cho người khuyết tật và một số mô hình đào tạo nghề cho người khuyết tật ở nước ta;
Đề xuất một số mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Báo cáo tổng hợp của Đề tài gồm 3 chương:
Chương I. Cơ sở lý luận về xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật.
Chương II. Thực trạng hoạt động đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật ở Việt Nam.
Chương III. Khuyến nghị mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật ở Việt Nam.
4. Nội dung chính của đề tài
Chương I. Cơ sở lý luận về xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật
Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận vững chắc bằng việc làm rõ các khái niệm công cụ và đặc điểm cốt lõi liên quan đến người khuyết tật, đào tạo nghề nghiệp và các tiêu chí để đánh giá tính hiệu quả của một mô hình đào tạo dành cho đối tượng đặc thù này. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc xây dựng mô hình đào tạo nghề cho NKT không thể áp dụng rập khuôn theo các mô hình đại trà mà đòi hỏi sự điều chỉnh sâu sắc về chương trình, giáo trình, phương pháp sư phạm, cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ nhằm tương thích tối đa với từng dạng tật và mức độ suy giảm khả năng lao động. Đồng thời, chương này phân tích kỹ lưỡng các nhân tố tác động đến sự thành công của mô hình như chính sách vĩ mô của Nhà nước, năng lực nội tại của các cơ sở GDNN, nhu cầu tuyển dụng thực tế của thị trường lao động và tâm lý tự ti của chính bản thân NKT. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng tổng hợp, phân tích các mô hình hỗ trợ NKT tiên tiến trên thế giới, từ đó đúc kết những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam về việc gắn kết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ việc làm chuyên biệt.
Chương II. Thực trạng hoạt động đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật ở Việt Nam
Nội dung chương hai đi sâu vào phân tích bức tranh thực tế về công tác đào tạo nghề cho NKT tại Việt Nam dựa trên các số liệu thống kê và kết quả khảo sát thực địa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách hỗ trợ NKT ngày càng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các địa phương và cơ sở GDNN triển khai thực hiện. Một số mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm tại chỗ hoặc liên kết với doanh nghiệp đã bước đầu hình thành và mang lại hiệu quả nhất định, giúp nhiều NKT có thu nhập ổn định. Tuy nhiên, thực trạng chung vẫn còn nhiều hạn chế đáng lo ngại khi tỷ lệ NKT được tiếp cận với giáo dục nghề nghiệp chính quy còn rất thấp, quy mô đào tạo nhỏ lẻ và ngành nghề đào tạo chưa phong phú, chủ yếu tập trung vào các nghề thủ công truyền thống có giá trị gia tăng thấp. Sự tham gia của các doanh nghiệp vào quá trình đào tạo và tiếp nhận NKT vào làm việc chưa thực sự mạnh mẽ do thiếu các cơ chế khuyến khích đủ hấp dẫn và các rào cản về hạ tầng nơi làm việc. Nguyên nhân của những hạn chế này xuất phát từ việc nguồn lực ngân sách bố trí cho công tác này còn hạn hẹp, đội ngũ giáo viên dạy nghề thiếu kiến thức chuyên biệt về tâm lý và kỹ năng tương tác với NKT, đồng thời công tác hướng nghiệp, dự báo nhu cầu thị trường lao động dành riêng cho NKT chưa được đầu tư bài bản.
Chương III. Khuyến nghị mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật ở Việt Nam
Trên cơ sở lý luận của Chương I và thực trạng được đúc rút từ Chương II, chương cuối cùng của đề tài đã định hướng và đưa ra các khuyến nghị cụ thể về 2 mô hình đào tạo nghề có hiệu quả, mang tính đột phá nhằm giải quyết tận gốc bài toán việc làm cho NKT. Mô hình thứ nhất được khuyến nghị là đào tạo nghề nghiệp gắn với việc làm dựa vào cộng đồng, tập trung vào nhóm NKT có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh khó khăn để đào tạo các kỹ năng thực hành linh hoạt ngay tại địa phương, giúp họ tự tạo việc làm hoặc gia công sản phẩm cho các cơ sở sản xuất tại gia đình. Mô hình thứ hai là đào tạo nghề nghiệp trong các doanh nghiệp, hướng tới những NKT có khả năng thích ứng cao hơn, thông qua sự liên kết chặt chẽ giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp để thiết kế chương trình đào tạo "đo ni đóng giày" theo đúng vị trí tuyển dụng, giúp NKT có việc làm chính thức và hòa nhập hoàn toàn vào môi trường lao động công nghiệp. Để vận hành hiệu quả các mô hình này, đề tài đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ bao gồm: hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cường nguồn lực tài chính, nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà giáo, cải tiến chương trình giáo trình theo hướng tiếp cận năng lực, và đẩy mạnh công tác tuyên truyền xóa bỏ kỳ thị. Đề tài nhấn mạnh rằng các mô hình và giải pháp được khuyến nghị này đều đảm bảo tính pháp chế, tính thực tiễn, tính khả thi và linh hoạt cao, đảm bảo mang lại hiệu quả thiết thực cho NKT trong bối cảnh phát triển mới.
Thành viên đề tài:
Từ khóa:
Cơ sở lý luận Mô hình đào tạo Đào tạo nghề nghiệp Người khuyết tật Việt Nam