Cơ sở lý luận và thực tiễn về xác định số giờ làm thêm phù hợp ở các ngành chế biến thủy sản, dệt may và da giầy

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hồng

Năm đăng ký: 2019

Năm nghiệm thu: 2019

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, việc thúc đẩy tăng trưởng nhanh gắn liền với yêu cầu bền vững, đặt ưu tiên hàng đầu vào bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội luôn là định hướng cốt lõi của Chính phủ. Khi quốc gia hội nhập sâu rộng thông qua việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và chuẩn bị cho EVFTA, các tiêu chuẩn lao động quốc tế, việc thực thi trách nhiệm xã hội và xu hướng giảm giờ làm trên toàn cầu trở thành rào cản mang tính bắt buộc. Ba ngành xuất khẩu mũi nhọn bao gồm chế biến thủy sản, dệt may và da giầy giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với GDP và năng lực thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, các ngành này mang những đặc thù sản xuất rất lớn về tính thời vụ bất ổn của nguồn nguyên liệu thô dễ hư hỏng, tính chất bị động của các đơn hàng gia công đột xuất cũng như áp lực khắt khe về thời hạn bàn giao sản phẩm. Thực tế này dẫn đến nhu cầu huy động người lao động làm thêm giờ tại các nhà máy là cực kỳ lớn nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành và kịp tiến độ kinh doanh. Việc lạm dụng làm thêm giờ quá mức kéo dài không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, bào mòn chất lượng nguồn nhân lực bền vững mà còn gián tiếp làm sụt giảm nguồn thu thực tế của quỹ bảo hiểm xã hội, tạo nên những hệ lụy nghiêm trọng cho lưới an sinh xã hội dài hạn và chất lượng sống của công nhân. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống nhằm tìm kiếm cơ sở lý luận, thực tiễn để xác định khung giờ làm thêm phù hợp và thiết lập các giải pháp giám sát tuân thủ cho các ngành đặc thù này là một đòi hỏi vô cùng cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn xác định số giờ làm thêm phù hợp với đặc thù ngành Chế biến Thủy sản, Dệt may và Da giầy.

Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa và làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn về giờ làm thêm.

- Đánh giá thực trạng giờ làm thêm trong các doanh nghiệp ngành chế biến thủy sản, dệt may và da giầy; Phân tích ảnh hưởng giờ làm thêm đến sức khoẻ người lao động;

- Đề xuất được các phương án xác định giờ làm thêm phù hợp đảm bảo sức khoẻ của người lao động và hoạt động của doanh nghiệp.

3. Kết cấu của đề tài

Chương 1. Cơ sở lý luận về xác định giờ làm thêm

Chương 2. Thực trạng giờ làm thêm trong các ngành Chế biến Thủy sản,

Dệt may và Da giầy;

Chương 3. Khuyến nghị cơ sở xác định giờ làm thêm phù hợp với đặc thù

ngành Chế biến thủy sản, Dệt may và Da giầy.

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về xác định giờ làm thêm

Nội dung chương này tập trung xây dựng hệ thống lý luận khoa học nền tảng về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi dựa trên các quy luật sinh học, nhân trắc học và y học lao động. Nghiên cứu khẳng định giới hạn giờ làm thêm phải dựa trên tiêu chuẩn sức khỏe con người, quy luật sinh hoạt tự nhiên và đảm bảo thời gian tái tạo sức lao động thông qua giấc ngủ tối thiểu 7 giờ mỗi ngày. Đồng thời, chương này tiến hành tổng quan các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO, nội dung các bộ quy tắc ứng xử (như WRAP, SA8000, FLA) và cam kết về quyền lao động trong các FTA thế hệ mới, chỉ ra xu hướng kiểm soát chặt chẽ và giảm dần giờ làm việc trên toàn cầu. Các mô hình điều tiết giờ làm thêm bằng công cụ kinh tế như tiền lương lũy tiến cũng được phân tích làm cơ sở đối chiếu pháp lý.

Chương 2: Thực trạng giờ làm thêm trong các ngành Chế biến Thủy sản, Dệt may và Da giầy

Nội dung chương này đi sâu phân tích thực trạng huy động làm thêm giờ tại ba ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam. Kết quả đánh giá cho thấy áp lực đơn hàng quốc tế khắc nghiệt, tính chất mùa vụ của nguyên liệu thủy sản và tính bị động trong các đơn đặt hàng dệt may, da giầy là nguyên nhân cốt lõi khiến các doanh nghiệp thường xuyên tổ chức tăng ca vượt mức. Thực trạng lạm dụng làm thêm giờ này đã gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực trực tiếp đến đời sống, an toàn lao động và sức khỏe của công nhân, đặc biệt là lao động nữ. Ngoài ra, việc tăng giờ làm thêm để tiết kiệm chi phí đóng bảo hiểm xã hội tính trên đầu người của doanh nghiệp đã làm giảm nguồn thu của quỹ bảo hiểm so với thực tế, gây tổn hại đến lưới an sinh xã hội dài hạn. Chương này cũng chỉ ra những hạn chế, rào cản trong công tác thanh tra, kiểm tra và năng lực quản lý tuân thủ của các bên tại cơ sở.

Chương 3: Khuyến nghị cơ sở xác định giờ làm thêm phù hợp với đặc thù ngành Chế biến thủy sản, Dệt may và Da giầy

Nội dung chương cuối cùng tập trung luận giải bối cảnh thực tiễn và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho các bên. Trước hết, nghiên cứu phân tích bối cảnh phát triển bền vững của đất nước gắn với vai trò tư vấn của Hội đồng Quốc gia về nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững, trong đó nhấn mạnh tuyên bố ưu tiên cao nhất cho môi trường và an sinh xã hội của Chính phủ. Tiếp theo, chương này phác họa chi tiết bối cảnh và định hướng phát triển của ba ngành dệt may, da giầy, chế biến thủy sản theo các quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương đến năm 2020, tầm nhìn 2030, đồng thời chỉ ra các thách thức lớn về an sinh, sự sụt giảm nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội do lạm dụng tăng ca cũng như áp lực tuân thủ các quyền lao động cốt lõi của ILO sau khi phê chuẩn Hiệp định CPTPP và EVFTA.

Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra các quan điểm cơ bản như nới khung giờ làm thêm phải tôn trọng quyền làm việc của người lao động, gắn liền với nghĩa vụ giải trình nhu cầu của doanh nghiệp và bảo vệ sức khỏe theo tiêu chuẩn y học. Nghiên cứu đề xuất hai phương án phối hợp giới hạn giờ làm thêm: Phương án I phối hợp giữa giới hạn ngày (giữ tối đa 4 giờ/ngày theo quy luật sinh học và tiêu chuẩn giấc ngủ tối thiểu 7 giờ) với giới hạn năm (nới rộng đến 450 giờ cho các ngành đặc thù và bỏ giới hạn tháng nhằm tạo tính linh hoạt); Phương án II kiểm soát theo tuần (tối đa 12 giờ/tuần dựa trên việc thực thi nghiêm ngặt giờ nghỉ chuyển ca tối thiểu 12 giờ) kết hợp giới hạn năm 450 giờ để hạn chế doanh nghiệp liên tục lạm dụng tăng ca để né tránh tuyển dụng mới. Khung giờ làm thêm khuyến nghị cho ngành thủy sản cần bám sát khung thời vụ nuôi trồng; đối với dệt may và da giầy cần trải đều các quý và gắn với nghĩa vụ chứng minh tính bất khả kháng do biến động đơn hàng đột xuất.

Về hệ thống giải pháp kiểm soát và giám sát tuân thủ, đề tài thiết kế mô hình đa bên đồng bộ. Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách yêu cầu Nhà nước hoàn thiện pháp luật lao động, khẳng định rõ quy định bắt buộc về "giờ nghỉ liên tục trước khi chuyển ca 12 giờ" cho mọi trường hợp, đồng thời luật hóa thời gian nghỉ ăn ca và bồi dưỡng trước khi tăng ca. Tiền lương làm thêm giờ cần quy định tính theo cách lũy tiến ở 3 nấc điều chỉnh (2 giờ - 1 giờ - 1 giờ) và diễn giải rõ ràng thuật ngữ đơn giá tính lương để loại bỏ các mâu thuẫn gây đình công. Đối với doanh nghiệp đặc thù thường xuyên tăng ca, thu nhập từ làm thêm giờ cần phải được dùng để đóng và hưởng bảo hiểm xã hội để bảo vệ quyền lợi lâu dài cho công nhân. Bộ Y tế cần phối hợp rà soát danh mục công việc độc hại, bổ sung trường khai báo lịch sử làm thêm vào hồ sơ bệnh nghề nghiệp, hồ sơ sơ cấp cứu tai nạn, đồng thời siết chặt chất lượng quan trắc môi trường và thăm khám sức khỏe định kỳ. Lực lượng thanh tra lao động cần đẩy mạnh kiểm tra đột xuất, áp dụng chế tài xử phạt nghiêm minh mang tính răn đe, kết hợp chính sách hỗ trợ cải tiến năng lực quản trị sản xuất để doanh nghiệp không cần phụ thuộc vào việc huy động tăng ca.

Nhóm giải pháp phát huy vai trò tổ chức dân sự và tổ chức đại diện yêu cầu tăng cường kết nối của các Hiệp hội ngành nghề nhằm chia sẻ thông tin đơn hàng và xử lý sự cố; phát huy vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ trong giám sát thực thi quyền thương lượng, bảo vệ lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng khỏi áp lực tăng ca. Bản thân người lao động cần chủ động nâng cao kiến thức pháp lý để tự bảo vệ, còn hệ thống công đoàn các cấp phải nâng cao năng lực đối thoại, chủ động đưa các điều khoản giới hạn giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi vào Thỏa ước lao động tập thể. Cuối cùng, giải pháp từ phía doanh nghiệp đòi hỏi các đơn vị phải chấp hành nghiêm túc pháp luật, lập hệ thống hồ sơ theo dõi đồng thời dữ liệu đơn hàng và sức khỏe lao động để làm cơ sở giải trình; thường xuyên cải thiện môi trường làm việc, không huy động lao động có sức khỏe yếu tăng ca; tổ chức sắp xếp đủ nguồn nhân lực ngay từ đầu, khuyến khích thành lập công đoàn cơ sở để lắng nghe đối thoại, và tích cực tăng cường liên kết chuỗi cung ứng hoặc đầu tư công nghệ để giảm thiểu tối đa các tình huống khẩn cấp phải kéo dài thời gian lao động.

 

Thành viên đề tài:

Th.s Lưu Thu Hường – Thư ký Th.s Nguyễn Anh Thơ TS. Bùi Tôn Hiến Ths. Nguyễn Hoài Nam Th.s Nghiêm Thị Ngọc Bích TS. Phạm Ngọc Thành Th.s Ngô Kim Tú TS. Hà Duy Hào

Từ khóa: Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn Giờ làm thêm Ngành chế biến thủy sản Da giầy Dệt may

Tên file View
CB2018-03 Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |