Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kỹ năng nghề nghiệp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Trong bối cảnh quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, bên cạnh sự hợp tác là sự cạnh tranh và ngày càng quyết liệt; việc tham gia vào quá trình sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế; nguồn nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp (KNNN) sẽ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia. Việc mở cửa thị trường lao động tạo ra sự dịch chuyển lao động giữa các nước, đòi hỏi các quốc gia phải phát triển nguồn nhân lực có KNNN, mặt khác, đòi hỏi người lao động phải có năng lực cạnh tranh cao. Người lao động phải thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng và phải có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của công nghệ và đòi hỏi người lao động phải học tập suốt đời.

Bối cảnh hội nhập giáo dục nghề nghiệp (GDNN) ngày càng sâu rộng việc phát triển nguồn nhân lực có KNNN đáp ứng được yêu cầu của không chỉ các doanh nghiệp của trong nước mà của các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) là một trong những giải pháp nhằm làm cho kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển ổn định và bền vững. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020, Đảng ta đã đặt ra chỉ tiêu: Đến năm 2020, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%. Đồng thời cũng xác định, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động. Đây là nhiệm vụ đồng thời cũng là thách thức đặt ra đối với giáo dục, đào tạo nói chung và dạy nghề nói riêng.

Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2014, Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã nhận định: "Một lực lượng lao động có kỹ năng là chìa khóa cho thành công trong chuyển đổi kinh tế và xã hội ở Việt Nam". Tuy nhiên, hiện nay KNNN của lao động Việt Nam đang là những rào cản, những thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam. Theo báo cáo khảo sát của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), các chủ doanh nghiệp Việt Nam cho rằng khi tuyển dụng lao động, doanh nghiệp phải đào tạo lại hầu hết lao động ở các cấp bậc khác nhau như học nghề, đại học, sau đại học; lao động rất hạn chế về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý. Kết quả khảo sát về "Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam" do Viện Khoa học Lao động và Xã hội và Tập đoàn Manpower thực hiện năm 2011 cho thấy lực lượng lao động trong độ tuổi của Việt Nam lớn, nhưng không đáp ứng được yêu cầu của họ; 1/4 doanh nghiệp cho rằng lao động không đáng tin cậy hoặc chưa quan tâm tới chất lượng công việc và thiếu kỹ năng giao tiếp; một tỷ lệ nhỏ hơn thì cho rằng lao động không biết duy trì môi trường làm việc an toàn, sạch sẽ, kém thích nghi với sự thay đổi, yếu về quản lý và hoàn thành nhiệm vụ cũng như tiếp thu, ứng dụng các thông tin mới; nhóm kỹ năng bị bỏ qua gồm ngoại ngữ, vi tính, hiểu biết về tài chính, khả năng sáng tạo và tạo động lực cho người khác.

Sự thiếu hụt KNNN đang là một trong những trở ngại chính đối với khả năng cạnh tranh của Việt nam trong hội nhập khu vực và quốc tế và cũng chính điều đó đang làm cản trở năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế. Theo Báo cáo của WEF về năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2016 - 2017, chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam chỉ tăng tụt 4 bậc, từ vị trí 56 xuống vị trí 60 trong 138 quốc gia và vùng lãnh thổ được tham gia xếp hạng. Trong 12 tiêu chí đánh giá xếp hạng, tiêu chí giáo dục đại học và đào tạo vẫn là một trong những tiêu chí yếu kém nhiều năm. Theo Báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới năm 2014, Việt Nam xếp hạng 78 trên 189 nước. Chuyên gia WEF cảnh báo: Nếu không cải thiện được khả năng cạnh tranh quốc gia, Việt Nam sẽ không tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam sẽ không trở thành nơi các công ty nước ngoài chọn đặt địa điểm sản xuất.

Do vậy, việc thực hiện Đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kỹ năng nghề nghiệp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập" là rất cần thiết, nhằm nghiên cứu, tìm ra những cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển KNNN ở trong nước và quốc tế, từ đó đề xuất, khuyến nghị các giải pháp góp phần phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kỹ năng nghề nghiệp, từ đó khuyến nghị một số nhóm giải pháp để phát triển kỹ năng nghề nghiệp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập.

Mục tiêu cụ thể:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng nghề nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập;

Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển kỹ năng nghề nghiệp;

Khuyến nghị các nhóm giải pháp để phát triển kỹ năng nghề nghiệp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Đề tài gồm có 2 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập.

Chương II: Thực trạng phát triển kỹ năng nghề nghiệp.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I: Cơ sở lý luận phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm chính: kỹ năng, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, đào tạo nghề, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, năng lực cạnh tranh quốc gia, hội nhập và năng suất lao động, từ nhiều cách tiếp cận (Từ điển Oxford, Đạo luật TESDA Philippines, Đạo luật Phát triển KNNN Malaysia, Từ điển Giáo dục học, Tâm lý học nghề nghiệp, tác giả Đặng Thành Hưng, Vũ Xuân Hùng). Đề tài khẳng định kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể, có tính linh hoạt, tính kỹ thuật và được hình thành qua luyện tập.

Đề tài phân tích cấu trúc kỹ năng nghề nghiệp gồm cấu trúc bên trong (ba thành tố kiến thức, kỹ năng, thái độ kết hợp nhuần nhuyễn) và cấu trúc bên ngoài (theo các quan điểm khác nhau tùy lĩnh vực nghề nghiệp). Về nội dung phát triển KNNN, đề tài chỉ ra cần phát triển đồng thời kỹ năng cứng (kỹ năng chuyên môn) và kỹ năng mềm (kỹ năng xã hội, phương pháp, cá nhân), thông qua các hình thức đào tạo chính quy, phi chính quy, đào tạo tại nơi làm việc và tự đào tạo. Đề tài phân tích sâu mô hình đào tạo theo năng lực thực hiện (Competency Based Training) - xu thế phổ biến trên thế giới, dựa trên triết lý đào tạo gắn với việc làm, với các đặc trưng: định hướng đầu ra, mục tiêu đáp ứng yêu cầu thị trường lao động, nội dung tích hợp lý thuyết - thực hành, và đánh giá theo tiêu chuẩn nghề; đồng thời phân tích vai trò của hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trong việc công nhận kỹ năng tích lũy qua các con đường khác nhau.

Đề tài xác định các yếu tố đảm bảo phát triển KNNN (đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất - thiết bị, hệ thống bảo đảm chất lượng, mối liên kết giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp) và các tiêu chí phát triển KNNN (tiêu chí chung và tiêu chí cụ thể). Trên cơ sở đó, đề tài phân tích sâu mối quan hệ giữa phát triển KNNN với nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, khẳng định nguồn nhân lực có KNNN là yếu tố quyết định tăng năng suất lao động, là điều kiện phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng; đồng thời giới thiệu Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) như công cụ đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phần kinh nghiệm quốc tế khảo sát tiến trình xây dựng hệ thống kỹ năng nghề quốc gia của các nước ASEAN, cùng kinh nghiệm phát triển KNNN cụ thể tại Đức (mô hình đào tạo kép gắn nhà trường với doanh nghiệp), Australia và Hàn Quốc (đào tạo phát triển kỹ năng nghề do cả cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động thực hiện). Từ đó, đề tài rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về thể chế, mô hình tổ chức đào tạo và sự tham gia của doanh nghiệp trong phát triển KNNN.

4.2. Chương II: Thực trạng phát triển kỹ năng nghề nghiệp

Chương 2 đánh giá thực trạng chính sách, pháp luật về phát triển KNNN ở Việt Nam, bao gồm các chủ trương lớn của Đảng (Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết số 29-TW/NQ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, Chỉ thị số 37-CT/TW về đào tạo nhân lực có tay nghề cao) cùng hệ thống chính sách cụ thể đối với người đi học (hỗ trợ, miễn giảm học phí), đối với nhà giáo (chính sách tiền lương, tôn vinh), đối với cơ sở GDNN và đối với doanh nghiệp (chính sách đào tạo, chính sách thuế).

Về thực trạng tổ chức đào tạo, tính đến hết năm 2015, cả nước có tổng số 1.467 cơ sở dạy nghề, trong đó 190 cao đẳng nghề, 280 trung cấp nghề và 997 trung tâm dạy nghề, với 973 cơ sở công lập (66%) và 505 cơ sở tư thục (34%). Tổng số tuyển sinh học nghề năm 2015 đạt 1.979.199 người (bằng 92,1% kế hoạch), trong đó cao đẳng nghề 81.133 người, trung cấp nghề 128.971 người, sơ cấp nghề 779.816 người và dạy nghề dưới 3 tháng 989.279 người; tổng số tốt nghiệp đạt 1.727.644 người (89,8% số đủ điều kiện thi). Đề tài đánh giá những ưu điểm như hệ thống đào tạo được đổi mới căn bản theo hướng cầu của thị trường lao động, mạng lưới cơ sở đào tạo phát triển rộng khắp, khoảng 70% học sinh tìm được việc làm ngay sau tốt nghiệp; đồng thời chỉ ra các hạn chế như tuyển sinh khó khăn ở ngành nghề nặng nhọc, độc hại; cơ cấu đào tạo theo nghề và trình độ chưa hợp lý; chất lượng phát triển kỹ năng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường lao động về tay nghề và kỹ năng mềm; sự gắn kết doanh nghiệp với cơ sở dạy nghề còn lỏng lẻo; và nguyên nhân chủ yếu do chưa ban hành khung trình độ quốc gia, công tác phân luồng hướng nghiệp chưa hiệu quả.

Đề tài phân tích thực trạng hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, chỉ ra hạn chế là việc phát triển tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG) chủ yếu dựa theo danh mục nghề đào tạo hiện có do danh mục nghề nghiệp chưa được ban hành đầy đủ, nhiều tên nghề chưa hợp lý, và số người được cấp thẻ đánh giá viên từ doanh nghiệp còn hạn chế.

Về thực trạng chất lượng KNNN, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á được xếp hạng (so với Hàn Quốc 6,91 điểm, Ấn Độ 5,76 điểm, Malaysia 5,59 điểm); tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo lên tới 79,38% lực lượng lao động. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2012, có tới 65% chủ doanh nghiệp FDI và 35% doanh nghiệp trong nước cho rằng KNNN đào tạo tại trường không đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, với các kỹ năng còn thiếu chủ yếu là kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, giao tiếp và làm việc nhóm. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo nghề cũng có chuyển biến tích cực: năm 2015 khoảng 70% học sinh học nghề tốt nghiệp có việc làm, một số nghề đạt trên 90%; tại các kỳ thi tay nghề ASEAN, Việt Nam đạt 3 lần giải Nhất trong 10 kỳ thi và đạt huy chương đồng tại kỳ thi tay nghề thế giới năm 2015.

Về thực trạng năng suất lao động, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2015 ước đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao động), tăng 6,4% so với năm 2014, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm. Giai đoạn 1994-2013, năng suất lao động Việt Nam tính theo PPP 2005 tăng trung bình 4,87%/năm, mức cao trong khu vực ASEAN, giúp thu hẹp khoảng cách tương đối với Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Tuy nhiên, khoảng cách tuyệt đối về năng suất lao động giữa Việt Nam với hầu hết các nước ASEAN có trình độ phát triển cao hơn vẫn có xu hướng gia tăng, do quy mô kinh tế còn nhỏ, cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và khu vực phi chính thức còn cao, công nghệ còn lạc hậu và đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp. Năng suất lao động bình quân khu vực doanh nghiệp năm 2014 theo giá hiện hành ước đạt 281,4 triệu đồng/lao động.

 

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Quang Hưng, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Thư ký; TS. Nguyễn Đức Hỗ, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Thành viên chính; TS. Bùi Tôn Hiến, Đại học Lao động và Xã hội, Thành viên chính; TS. Trương Anh Dũng, Tổng cục Dạy nghề, Thành viên; ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định, Thành viên; CN. Đào Thị Tuyết Nhung, Tổng cục Dạy nghề, Thành viên.

Từ khóa: Kỹ năng nghề nghiệp Phát triển kỹ năng Năng lực cạnh tranh quốc gia Hội nhập Giáo dục nghề nghiệp Năng suất lao động Đào tạo theo năng lực thực hiện

Tên file View
CT2016-01-01.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |