Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới một số chính sách xã hội ở chính sách xã hội giai đoạn 2021-2030

Chủ nhiệm: TS.Bùi Tôn Hiến

Năm đăng ký: 2020

Năm nghiệm thu: 2021

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, nhận thức và quan điểm về chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đổi mới và tiến bộ. Sự phát triển nhận thức của Đảng về chính sách xã hội được thể hiện rõ qua các kỳ đại hội. Đại hội lần thứ VI khẳng định: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc… thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội”.  Đại hội VII nhấn mạnh: “Huy động mọi khả năng của Nhà nước và của nhân dân, trung ương và địa phương để cùng nhau giải quyết các vấn đề của chính sách xã hội. Xây dựng các quỹ bảo hiểm xã hội của nhân dân trong tất cả các thành phần kinh tế...”.  Đại hội VIII, Đảng khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” và “Các vấn đề chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”.

Xuyên suốt các kỳ Đại hội IX, X, XI, Đảng nhất quán khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ, mục tiêu của chính sách xã hội, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề công bằng trong các chính sách xã hội. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đánh dấu là nghị quyết đầu tiên của Đảng về chính sách xã hội. Nhiều nghị quyết, chỉ thị chuyên đề của Đảng về các lĩnh vực như dân số, giáo dục, y tế, tiền lương, bảo hiểm xã hội, ưu đãi người có công…, cũng được ban hành, làm kim chỉ nam để tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội ở nước ta.

Kết quả hoàn thiện chính sách xã hội thời gian qua được thể hiện ở 3 khía cạnh: (1) Chính sách xã hội nhanh chóng được bổ sung, sửa đổi, được hiến định và luật hóa bằng nhiều văn bản luật và dưới luật; được khẩn trương thực hiện đồng bộ và thống nhất trong cả nước, góp phần tích cực nâng cao hiệu quả quản lý và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xã hội. (2) Nội hàm và phạm vi của chính sách xã hội ngày càng được mở rộng, phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng từ giai cấp công nhân, nông dân đến tầng lớp trí thức, doanh nhân. (3) Đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống chính sách xã hội tương đối đầy đủ, đồng bộ, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng và đoàn kết, nổi bật là các chính sách lao động – việc làm, bảo hiểm xã hội, xóa đói giảm nghèo, trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công với cách mạng… Kết quả thực hiện, chính sách xã hội đã góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống nhân dân, từng bước bảo đảm quyền và đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp và cộng đồng dân cư trong xã hội, bảo đảm “tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội”.

Tuy nhiên, chính sách xã hội của Việt Nam vẫn cần tiếp tục đổi mới như Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp Sơ kết thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đó là cần phải “Xây dựng đề án chính sách xã hội của Việt Nam giai đoạn 2021-2030” nhằm hướng tới xã hội vì con người, lấy con người làm trung tâm; tăng cường an ninh xã hội, an ninh con người, không để ai bị bỏ lại phía sau; nâng cao chất lượng phát triển con người, tăng năng suất lao động, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Để có căn cứ khoa học và thực tiễn làm căn cứ xây dựng đề án chính sách xã hội của Việt Nam giai đoạn 2021-2030, Viện Khoa học Lao động và Xã hội tiến hành nghiên cứu đề án khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới một số chính sách xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2021-2030” nhằm định hình khuôn khổ lý thuyết về chính sách xã hội cũng như tình hình thực hiện chính sách xã hội trong thực tế và đề xuất các định hướng đổi mới chính sách xã hội cho giai đoạn tiếp theo.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung:

Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ xây dựng đề án chính sách xã hội giai đoạn 2021-2030.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách xã hội và đổi mới chính sách xã hội.

Tổng kết thực tiễn, đánh giá thực trạng một số chính sách xã hội tiêu biểu trong giai đoạn 2011-2020; chỉ rõ những thành công, hạn chế của mỗi nhóm chính sách được lựa chọn đánh giá. 

Phân tích bối cảnh và luận chứng những vấn đề xã hội đặt ra; dự báo xu hướng và một số chỉ tiêu xã hội đến năm 2030.

Đề xuất định hướng đổi mới một số chính sách xã hội giai đoạn 2021- 2030 và kiến nghị các giải pháp thực hiện.

3. Kết cấu của đề tài

Báo cáo tổng hợp đề án gồm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách xã hội và đổi mới chính sách xã hội

Chương 2. Thực trạng một số chính sách xã hội của việt nam giai đoạn 2011-2020

Chương 3. Định hướng giải pháp đổi mới một số chính sách xã hội đến năm 2030

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách xã hội và đổi mới chính sách xã hội

Cơ sở lý luận về chính sách xã hội được đề án phân tích toàn diện thông qua việc hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng và các mô hình phát triển trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Bản chất của chính sách xã hội là một loại chính sách công do Nhà nước ban hành nhằm can thiệp có chủ đích, thể chế hóa đường lối của Đảng để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh, thực hiện quyền con người, tiến bộ và công bằng xã hội. Đặc điểm của chính sách xã hội là luôn hướng vào con người, mang tính nhân văn sâu sắc, có nội dung rộng lớn bao trùm mọi mặt đời sống và vận hành dựa trên sự chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Trong quản lý phát triển bền vững, chính sách xã hội giữ vai trò nòng cốt khi là bộ phận không thể tách rời của chiến lược phát triển quốc gia, đóng vai trò là công cụ điều hòa các quan hệ lợi ích, giảm phân tầng xã hội và tạo động lực giải phóng sức sản xuất thông qua mô hình quản lý rủi ro 3P (Bảo vệ, Phòng ngừa, Thúc đẩy). Để vận hành hiệu quả, chính sách xã hội phải thực hiện đầy đủ các chức năng nhận thức, chức năng phân tích dự báo và chức năng can thiệp thực tiễn, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi như tính toàn diện, đối xử công bằng, tính cộng đồng, phân luồng đối tượng, định mức bảo đảm và sự quản lý thống nhất của Nhà nước.

Mối quan hệ giữa chính sách xã hội và chính sách kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam được khẳng định là một thể thống nhất, phụ thuộc và hỗ trợ biện chứng lẫn nhau, trong đó đầu tư cho chính sách xã hội chính là đầu tư cho phát triển. Sự phát triển kinh tế đóng vai trò tạo tiền đề, điều kiện vật chất để thực hiện các mục tiêu xã hội, ngược lại, chính sách xã hội đúng đắn lại là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao và bền vững. Bản chất của mối quan hệ này yêu cầu sự gắn kết chặt chẽ ngay từ đầu, trong từng bước đi và trong suốt quá trình phát triển thông qua việc lồng ghép các chương trình kinh tế và xã hội, phân phối lại thành quả tăng trưởng một cách công bằng để hướng tới mục tiêu phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Trên cơ sở đó, cấu phần của chính sách xã hội được định hình linh hoạt theo từng thời kỳ lịch sử, tại Việt Nam bao gồm chính sách ưu đãi người có công và hệ thống an sinh xã hội bao phủ các lĩnh vực việc làm, thu nhập, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cùng việc bảo đảm mức tối thiểu cho các dịch vụ xã hội cơ bản. Đề án cũng xem xét các mô hình chính sách xã hội điển hình trên thế giới gồm mô hình công, mô hình chức năng (phúc lợi dư lợi, phúc lợi kết quả - hoạt động công nghiệp, thiết chế phân phối lại) và mô hình phát triển, từ đó xây dựng khung phân tích chính sách xã hội phù hợp với điều kiện thực tế.

Về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự đổi mới, đề án khẳng định đổi mới chính sách xã hội là một quá trình tất yếu khách quan, mang tính chủ động nhằm thay đổi hoặc hoàn thiện hệ thống quan điểm, công cụ và phương thức quản lý từ trạng thái cũ sang trạng thái mới tiến bộ hơn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Tiến trình đổi mới chính sách xã hội ở Việt Nam phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, đồng thời là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đổi mới từ dưới lên dựa trên nhu cầu của nhân dân và đổi mới từ trên xuống qua đường lối, thể chế. Nội hàm của sự đổi mới này bao quát từ việc thay đổi nhận thức về vai trò của chính sách xã hội, chuyển trọng tâm quản lý sang hướng chủ động phòng ngừa, đa tầng hóa hệ thống bảo vệ, và hiện đại hóa thủ tục hành chính công nghệ cao. Kinh nghiệm quốc tế từ nhận thức định hướng của Liên hợp quốc cùng thực tiễn cải cách tại Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan đã đem lại những bài học quý báu cho Việt Nam. Đó là việc cần thiết phải gắn kết chặt chẽ chính sách xã hội với tăng trưởng kinh tế, coi trọng đầu tư cho con người, mở rộng diện bao phủ an sinh, đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa, và đặc biệt là nâng cao năng lực tự vươn lên của các đối tượng thụ hưởng nhằm bảo đảm tính bền vững của toàn hệ thống.

Chương 2. Thực trạng một số chính sách xã hội của việt nam giai đoạn 2011-2020

Báo cáo tổng quan về chính sách xã hội tại Việt Nam giai đoạn 2012-2020 chỉ rõ vị trí, vai trò chiến lược của hệ thống chính sách này trong việc ổn định chính trị, thúc đẩy đồng thuận xã hội và hiện thực hóa quyền con người. Diện mạo hệ thống chính sách trong giai đoạn này được xem xét toàn diện qua các cấu phần chủ chốt bao gồm: chính sách lao động, việc làm và đào tạo nghề; chính sách giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; chính sách trợ giúp xã hội dành cho các đối tượng khó khăn; cùng các chính sách bảo đảm mức tối thiểu về dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch - vệ sinh môi trường, và thông tin truyền thông. Sự hình thành cấu trúc này cho thấy nỗ lực của Nhà nước trong việc thiết lập một lưới an sinh đa tầng, chuyển dần từ tiếp cận hỗ trợ nhân đạo mang tính sự vụ sang tiếp cận dựa trên quyền và bảo đảm an sinh bền vững cho mọi công dân.

Quá trình triển khai thực hiện các nhóm chính sách trên thực tế đã ghi nhận những kết quả số liệu rất cụ thể, sinh động kèm theo sự đánh giá, phản hồi trực tiếp từ người dân. Trong lĩnh vực lao động việc làm và đào tạo nghề, các chương trình hỗ trợ tạo việc làm, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và dịch vụ giới thiệu việc làm đã giúp chuyển dịch cơ cấu lao động mạnh mẽ, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo trong độ tuổi. Chính sách giảm nghèo đạt được bước tiến lớn khi chuyển đổi thành công sang phương thức đo lường đa chiều, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước giai đoạn 2009-2018 và hạn chế các chỉ số thiếu hụt dịch vụ cơ bản. Lĩnh vực bảo hiểm chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô và tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội bắt buộc lẫn tự nguyện, cùng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp phát huy vai trò bảo trợ hiệu quả cho người lao động trong các cuộc khủng hoảng. Công tác trợ giúp xã hội thường xuyên lẫn đột xuất được thực hiện tích cực, kịp thời cấp phát gạo, kinh phí hỗ trợ rủi ro thiên tai và mở rộng đối tượng tại các cơ sở trợ giúp. Bên cạnh đó, các mục tiêu bảo đảm giáo dục tối thiểu, y tế cơ bản, diện tích nhà ở bình quân, tỷ lệ sử dụng nước sạch và tiếp cận thông tin truyền thông đều hoàn thành các chỉ tiêu đề ra nhờ sự đầu tư ngân sách lớn từ Trung ương đến địa phương.

Đánh giá chung về chặng đường 2011-2020, đề án khẳng định những thành tựu đạt được là rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, góp phần nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, củng cố niềm tin vào chế độ. Hệ thống luật pháp về chính sách xã hội được hoàn thiện vượt bậc, nguồn lực huy động từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa ngày càng lớn mạnh, giúp Việt Nam hoàn thành sớm nhiều Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Dù vậy, báo cáo cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế căn bản: diện bao phủ của bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng; kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chất lượng các dịch vụ xã hội cơ bản ở vùng sâu vùng xa còn khoảng cách lớn so với đô thị; và bộ máy tổ chức thực hiện, thủ tục hành chính đôi lúc còn chồng chéo, chưa linh hoạt trước các cú sốc kinh tế - xã hội diện rộng.

Chương 3. Định hướng giải pháp đổi mới một số chính sách xã hội đến năm 2030

Bước sang giai đoạn mới, bối cảnh quốc tế và trong nước mang lại cả những cơ hội lẫn thách thức đan xen đối với tiến trình tiếp tục đổi mới chính sách xã hội giai đoạn 2021-2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các cam kết hội nhập thế hệ mới mở ra không gian phát triển lớn nhưng cũng gây áp lực dịch chuyển lao động và gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Trong nước, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đạt nhiều thành tựu lớn về tiềm lực kinh tế, song đất nước phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng từ già hóa dân số nhanh chóng, biến đổi khí hậu khắc nghiệt, thiên tai dịch bệnh khó lường, và yêu cầu bảo đảm an ninh con người ngày càng cao. Thực tế đó đặt ra những vấn đề mới mang tính cốt lõi cho hệ thống chính sách xã hội, đòi hỏi sự thay đổi toàn diện từ tư duy thiết kế việc làm bền vững thích ứng công nghệ, mở rộng tầng bảo hiểm hưu trí linh hoạt, nâng cao tính liên thông của trợ giúp xã hội - giảm nghèo, đến việc nâng cấp chất lượng mạng lưới dịch vụ xã hội cơ bản thích ứng với các cuộc khủng hoảng phi truyền thống.

Quan điểm đổi mới chính sách xã hội cho giai đoạn 2021-2030 được đề án xác định rõ ràng: phải bảo đảm tính kiên định, kế thừa và phát triển; đặt chính sách xã hội ngang tầm với chính sách kinh tế; lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực của sự phát triển. Hệ thống chính sách mới hướng tới mục tiêu bao phủ toàn dân, thiết kế đa tầng, linh hoạt, có sự chia sẻ hợp lý giữa Nhà nước, xã hội và người dân, đồng thời thúc đẩy tối đa tinh thần tự lực tự cường của đối tượng thụ hưởng. Định hướng đổi mới tập trung vào việc chuyển mạnh từ hỗ trợ sang đầu tư phát triển con người, phát triển năng lực nghề nghiệp, tăng cường tính chủ động phòng ngừa rủi ro theo vòng đời. Trên nền tảng đó, mục tiêu tổng quát hướng đến xây dựng một hệ thống chính sách xã hội tiến bộ, công bằng, bền vững, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của nhân dân. Các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể được lượng hóa rõ ràng theo hai phân kỳ chiến lược (giai đoạn 2021-2025 và giai đoạn 2026-2030) cho từng cấu phần việc làm, bảo hiểm, giảm nghèo và dịch vụ cơ bản nhằm bảo đảm tính khả thi và có thể dự báo, theo dõi.

Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược này, đề án đưa ra hệ thống giải pháp thực hiện đổi mới đồng bộ phân tách thành hai nhóm chung và cụ thể. Nhóm giải pháp chung tập trung vào việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ, đổi mới cơ chế tài chính công và phân bổ ngân sách, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - chuyển đổi số trong quản trị, và tăng cường hợp tác quốc tế. Nhóm giải pháp cụ thể đi sâu giải quyết bài toán cho từng lĩnh vực: thúc đẩy thị trường lao động linh hoạt, phát triển kỹ năng nghề thích ứng công nghệ; đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng đa tầng, thu hẹp diện bao phủ thương mại, hoàn thiện bảo hiểm thất nghiệp và y tế toàn dân; hiện đại hóa công tác giảm nghèo đa chiều bền vững gắn liền với nâng cao mức trợ cấp và dịch vụ trợ giúp xã hội chuyên nghiệp; đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận công bằng, chất lượng đối với các dịch vụ giáo dục, y tế, nhà ở xã hội, nước sạch và thông tin truyền thông cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các vùng khó khăn và nhóm đối tượng yếu thế.

 

Thành viên đề tài:

Phó chủ nhiệm: ThS.Lưu Quang Tuấn, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Thư ký: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Thành viên: ThS Đặng Kim Chung, Dự án Tăng cường năng lực hệ thống TGXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Nguyễn Thị Vĩnh Hà, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH TS. Bùi Sỹ Tuấn, Văn phòng Bộ LĐTBXH, Bộ LĐTBXH TS. Chử Thị Lân, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Phạm Thị Bảo Hà, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Nguyễn Thị Yến, Cục BTXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Triệu Thị Phượng, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH

Từ khóa: Chính sách xã hội chính sách xã hội Giai đoạn 2021-2030

Tên file View
ĐA2020-01 Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |