Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Năm đăng ký: 2018

Năm nghiệm thu: 2018

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài
Logistics có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, nếu chúng ta làm tốt, phát triển lĩnh vực logistics đúng hướng thì sẽ giảm chi phí cho các doanh nghiệp, tạo được sự cạnh tranh hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. 
Hoạt động logistics ngày nay không chỉ gắn liền với hoạt động kho vận, giao nhận vận tải, mà còn lên kế hoạch, sắp xếp dòng chảy nguyên vật liệu từ nhà cung ứng đến nhà sản xuất, sau đó luân chuyển hàng hóa từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, tạo nên sự liên thông trong toàn xã hội theo những phương án tối ưu hóa, giảm chi phí luân chuyển và lưu kho.
Hiện nay, dịch vụ logistics chiếm 15 – 20 % GDP ở Việt Nam, trong khi đó mức chi phí logistics so với GDP trung bình toàn cầu là 14% (Theo WB, 2016). Với mức chi phí cho dịch vụ logistics cao nhưng chất lượng dịch vụ được đánh giá tương đối thấp đã báo động cho chúng ta cần phải có những chủ trương đúng để phát triển bền vững. 
Quyết định số 175/QĐ-TTg ngày 27/1/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển tổng thể khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020 và đã nêu rõ coi logistics là yếu tố then chốt thúc đẩy phát triển sản xuất, hệ thống phân phối các ngành dịch vụ khác và lưu thông hàng hóa.
Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệ “Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025”. Theo đó, logistics được xem là “một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”. 
Ở góc độ chính sách chiến lược đào tạo, hiện nay Việt Nam đã có logistics trong danh mục ngành nghề theo Thông tư 04/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02 tháng 03 năm 2017 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa có tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và chương trình đào tạo nghề nghiệp lĩnh vực logistic. 
Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM về chất lượng nhân lực logistics cho thấy, 53,3% doanh nghiệp thiếu đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và kiến thức về logistics, 30% doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân viên và chỉ có 6,7% doanh nghiệp hài lòng với chuyên môn của nhân viên; Thông tin từ Viện Nghiên cứu & Phát triển logistics Việt Nam cho biết, trong 3 năm tới, trung bình các doanh nghiệp dịch vụ logistics cần thêm 18.000 lao động, các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, dịch vụ cần trên 1 triệu nhân sự có chuyên môn về logistics, hiện hàng ngàn doanh nghiệp đang rất lúng túng khi tìm kiếm lao động làm trong lĩnh vực này. Điều này cho thấy nguồn nhân lực logistics có chất lượng quá thấp. Từ những phân tích trên đây cho thấy, việc tìm kiếm giải pháp đào tạo nghề nghiệp logistics đáp ứng nhu cầu nhân lực ở Việt Nam đến năm 2025 là cần thiết. 
Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề này vẫn còn mới trong nghiên cứu, cũng như trong triển khai thực tế, do vậy, chúng tôi đã quyết định chọn vấn đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất một số giải pháp đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistics ở Việt Nam đến năm 2025.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo; các phụ lục, nội dung chính của đề tài được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và sử dụng nhân lực logistic;
Chương 2: Đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo nhân lực logistics ở Việt Nam đến 2025;
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực logistics ở Việt Nam đến 2025.
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và sử dụng nhân lực logistic. Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời làm rõ các khái niệm nền tảng. Tại nước ngoài, các công trình của Hội đồng Kỹ năng ngành Giao thông và Logistics ở Úc hay nghiên cứu của nhóm chuyên gia Jan Tomczyk, Lê Triều Dũng, Nguyễn Hồng Thanh (2011) đã nhấn mạnh việc đào tạo nghề chất lượng cao phải được các tổ chức quốc tế chứng nhận hoặc nhà tuyển dụng thừa nhận nhằm tránh tổn hại đến hạ tầng và dịch vụ logistics. Lĩnh vực này cũng được định vị là chương trình cấp quốc gia dựa theo Hiệp định khung ASEAN về hội nhập các ngành ưu tiên, cùng với hàng loạt nghiên cứu chuyên sâu về quản lý logistics toàn cầu của Kent Goudrin (2006) và nhiều học giả quốc tế khác. Tại Việt Nam, các dự án kết nối công nhân của APEC do Úc chủ trì (2014-2015) hay các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Luật, Nguyễn Thị Bích Ngọc (2013) và Đặng Đình Đào đã chỉ ra hoạt động logistics vẫn bị xem nhẹ, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng về nhân lực, tài lực, vật lực và đẩy chi phí kinh doanh lên quá cao. Đi sâu vào lý luận, chương này xác định logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát dòng lưu kho hiệu quả của hàng hóa, dịch vụ và thông tin từ điểm sản xuất đến điểm tiêu dùng. Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng, bao gồm các hoạt động vận tải, kho bãi, xếp dỡ, quản lý hàng tồn kho và dịch vụ logistics bên thứ ba. Nguồn nhân lực logistics được định nghĩa gồm toàn bộ nhân sự trực tiếp và gián tiếp tham gia hoạt động chuyên môn. Để đào tạo đáp ứng nhu cầu, đề tài thống nhất các kỹ năng cốt lõi cần truyền tải như quản lý lãnh đạo, dịch vụ khách hàng, tư vấn thiết kế, tư duy phản biện, công nghệ, số hóa, truyền thông hợp tác, khoa học kỹ thuật toán học, môi trường bền vững, phân tích dữ liệu và tính khởi nghiệp. Đồng thời, chương này cũng xây dựng 10 tiêu chí đánh giá của thị trường lao động đối với nghề logistics, chỉ ra mục đích, nguyên tắc, vị trí việc làm, các trình độ đào tạo và phân tích các mô hình đào tạo tiên tiến như mô hình đào tạo kép của CHLB Đức, mô hình đào tạo nhân lực địa phương của Nhật Bản, mô hình đào tạo theo chu trình, hiệu quả đào tạo cùng các yếu tố ảnh hưởng như nhận thức của cán bộ, thông tin nhu cầu nhân lực và hệ thống chính sách pháp luật chưa được thể chế hóa rõ ràng tại Việt Nam. 
Chương 2: Thực trạng và nhu cầu đào tạo nhân lực logistics ở Việt Nam đến năm 2025. Chương này tập trung triển khai khảo sát, xử lý số liệu để phác thảo bức tranh thực tế về pháp luật, chính sách và năng lực nhân sự. Đề tài chỉ ra thực trạng ngành dịch vụ logistics nước ta đang thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là trình độ tiếng Anh chuyên ngành. Theo nghiên cứu của VLA, chỉ tính riêng các công ty logistics thuần túy đã cần đào tạo mới và bài bản 250.000 nhân sự từ cấp lãnh đạo đến nhân viên chuyên nghiệp từ nay đến năm 2030. Dựa trên phép toán tăng trưởng nhân sự bình quân 7,5% với 3.000 doanh nghiệp hiện hữu, số lượng nhân sự cần đào tạo trong giai đoạn 15 năm (2016-2020 và tầm nhìn xa hơn) là 177.532 người; nếu cộng thêm lực lượng tại khoảng 200 công ty vận tải và cảng biển thì cần thêm ít nhất 100.000 người, nâng tổng số lên 350.000 người cho khối cung cấp dịch vụ. Đối với khối doanh nghiệp sử dụng dịch vụ, với tỷ lệ nhân sự logistics chiếm 4% trong quy mô trung bình 100 nhân viên, tính trên 350.000 doanh nghiệp đang hoạt động có áp dụng tỷ lệ qua đào tạo 50%, số người cần đào tạo hiện nay là 210.000 người, cộng với nhu cầu phát sinh 5%/năm trong 15 năm tới là 157.500 người. Tổng hợp lại, Việt Nam cần đào tạo tới 717.500 nhân sự logistics các cấp. Về thực trạng đào tạo đại học, dù nội dung logistics đã được lồng ghép từ lâu hoặc mở mã ngành chuyên ngành tại các trường lớn như Đại học Giao thông Vận tải, Đại học Hàng hải, Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, Đại học Quốc tế, Đại học Tôn Đức Thắng, Kinh tế Quốc dân, Ngoại thương, RMIT nhưng tổng sinh viên tốt nghiệp chính quy chỉ đạt khoảng 500 sinh viên/năm. Khối giáo dục nghề nghiệp (cao đẳng, trung cấp) hiện mới có 3 trường cao đẳng và 2 trường trung cấp tại TP.HCM cùng 1 trường cao đẳng tại Huế đăng ký mở ngành nhưng năng lực tuyển sinh và chuyên môn rất yếu, nhiều trường không tuyển được sinh viên hoặc chỉ tuyển được số lượng ít ỏi, ngoại trừ một số điểm sáng như Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại hay Cao đẳng nghề Cơ giới Thủy lợi Đồng Nai đào tạo ngắn hạn. Đối với các hiệp hội và liên đoàn, Hiệp hội VLA từ năm 2008 đã xây dựng các chương trình tiêu chuẩn quốc tế của FIATA, bảo vệ thành công các chứng chỉ quản lý giao nhận và chuỗi cung ứng, đào tạo được hơn 500 học viên với tỷ lệ có việc làm đúng ngành đạt 99%, trong khi Liên đoàn AFFA nhận tài trợ từ Chính phủ Nhật Bản để đào tạo giảng viên cốt lõi. Về phía doanh nghiệp, một số đơn vị đã tự đứng ra đào tạo hoặc liên kết như Công ty Tri thức Hậu cần (đào tạo 400 học viên/năm), Tổng Công ty Tân Cảng liên doanh với STC Hà Lan đào tạo hơn 1.000 lượt cán bộ/năm, Gemadept với chương trình bồi dưỡng tài năng trẻ, và ALS đào tạo hơn 500 lượt nhân viên/năm. Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy mức độ đáp ứng công việc của nhân sự rất thấp; các doanh nghiệp đánh giá tỷ lệ không hài lòng hoặc chỉ hài lòng ở mức trung bình về chuyên môn chiếm tới 65%-35%, kỹ năng mềm là 70%-30%, ngoại ngữ là 62%-38%, tin học là 55%-25%-20%. Đánh giá từ giáo viên và cán bộ quản lý về chất lượng đào tạo cũng phản ánh sự bất cập khi tỷ lệ kiến thức, kỹ năng và thái độ đạt loại tốt chỉ quanh quẩn ở mức 20% - 22%, trong khi loại trung bình và yếu chiếm tỷ trọng áp đảo, khẳng định đây là nguyên nhân chính khiến công tác đào tạo chưa thể đáp ứng nhu cầu thị trường. 
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực logistics ở Việt Nam đến năm 2025. Đây là chương cốt lõi đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ dựa trên thực nghiệm vững chắc. Chương này tập trung thiết lập các nhóm giải pháp nhằm giải quyết triệt để những điểm nghẽn đã phân tích ở chương 2. Các giải pháp hướng tới việc định hình lại phương thức tiếp cận đào tạo, gắn kết chặt chẽ nhà trường với doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa nguồn lực xã hội. Để minh chứng cho tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, đề tài đã tiến hành tổ chức thực nghiệm, khảo nghiệm nghiêm túc về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp, từ đó khẳng định nếu triển khai đồng bộ các đề xuất này, kết quả đào tạo hoàn toàn có khả năng đáp ứng toàn diện cả về số lượng lẫn chất lượng cho thị trường nhân lực logistics tại Việt Nam theo đúng mục tiêu đặt ra đến năm 2025. 

Thành viên đề tài:

Từ khóa: Nhân lực logistic Đào tạo Nghề nghiệp Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn

Tên file View
CB2018-12 Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |