Cơ sở lí luận và thực tiễn xác định các mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực đào tạo nghề giai đoạn 2016-2020
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Quang Việt
Năm đăng ký:
2015
Năm nghiệm thu:
2016
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Ngày 9 tháng 6 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Theo đó, các nhóm nhiệm vụ và giải pháp đã được đặt ra cho ngành giáo dục và dạy nghề. Chính phủ cũng đã phê duyệt “Chiến lược Phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” và “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Ngoài ra, các Chiến lược Tăng trưởng xanh, Chiến lược Phát triển bền vững… đã được ban hành nhưng trong các chiến lược chính sách về dạy nghề gần như còn trống vắng hoặc chưa đề cập một cách rõ ràng để có thể giải quyết đồng bộ những nội dung trên.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên khắp thế giới và mục tiêu chung hướng tới một Cộng đồng ASEAN 2015 không nằm ngoài quá trình trên. Để đạt được mục tiêu một Cộng đồng ASEAN năng động, hiệu quả thì không thể thiếu một thị trường lao động (TTLĐ) năng động, linh hoạt, trong đó hai yếu tố quan trọng là chất lượng lực lượng lao động có tay nghề và sự dịch chuyển lao động trong khu vực. Đây là hai yếu tố liên quan trực tiếp đến năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia thành viên và của toàn khối. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và chất lượng lao động có kỹ năng nghề di cư xuyên quốc gia trong ASEAN nói riêng mang lại lợi ích cho cả hai phía, một phía là nước phái cử lao động và phía kia là nước tiếp nhận lao động. Theo đó, việc các nước ASEAN có chủ trương hài hòa tiêu chuẩn nghề và tiêu chuẩn đào tạo giữa các nước, tiến tới công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề cho người lao động là rất cần thiết. Chiến lược Phát triển Dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 cũng xác định mục tiêu tổng quát: “Đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của TTLĐ cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội”.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, công tác đào tạo nghề ở nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ, bước đầu đáp ứng yêu cầu và nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật cho các ngành kinh tế quốc dân. Mạng lưới và quy mô đào tạo nghề tăng mạnh, nhiều chính sách và dự án phát triển đào tạo nghề được xây dựng và thực hiện đã tạo điều kiện cho nhiều nhóm đối tượng trong xã hội tiếp cận cơ hội học nghề ở các cấp trình độ với các hình thức học tập khác nhau. Xã hội hóa lĩnh vực dạy nghề bước đầu đã thu được kết quả tốt với việc huy động nhiều nguồn lực đầu tư cho việc nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác đào tạo nghề vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, một số mục tiêu chưa hoặc khó đạt được hiệu quả do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Quốc hội đã ban hành Luật GDNN và mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh so với Luật Dạy nghề, đồng thời thống nhất sắp xếp lại các trình độ giáo dục đào tạo của GDNN thông qua việc hợp nhất các trình độ đào tạo nghề với trình độ đào tạo cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp (TCCN). Như vậy, sự mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật GDNN và việc thiết kế các trình độ đào tạo mới cũng đang đặt ra những mục tiêu và nhiệm vụ mới cho đào tạo nghề - GDNN của Việt Nam trong giai đoạn tới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Cơ sở lí luận và thực tiễn xác định các mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực đào tạo nghề giai đoạn 2016-2020” là rất cần thiết đáp ứng các yêu cầu và bối cảnh mới đặt ra trong giai đoạn 2016 – 2020, đặc biệt khi Luật GDNN có hiệu lực từ 01/7/2015.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá các kết quả thực hiện của ngành dạy nghề theo mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong Chiến lược Phát triển dạy nghề và các đề án đào tạo nghề giai đoạn 2011-2015.
Phân tích xu hướng phát triển GDNN và đề xuất các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của GDNN giai đoạn 2016-2020.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị còn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học xác định các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016-2020.
Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2011-2015.
Chương 3: Khuyến nghị các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực đào tạo nghề/giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016-2020.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Đề tài hệ thống hóa cơ sở khoa học để xác định các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu cho hệ thống GDNN giai đoạn 2016-2020:
Đề tài làm rõ nội hàm các khái niệm phục vụ việc xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, bao gồm: chiến lược, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu, chỉ số thống kê, đào tạo nghề và giáo dục nghề nghiệp, đồng thời phân biệt rõ mối quan hệ và sự khác biệt giữa mục tiêu - chỉ tiêu - chỉ số trong lập kế hoạch theo kết quả. Trên cơ sở đó, đề tài hệ thống hóa khung khổ pháp lý và các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ lĩnh vực GDNN, gồm các quan điểm, chủ trương của Đảng (Nghị quyết Đại hội X, Nghị quyết số 26-NQ/TW, Thông báo kết luận số 242-TB/TW, Nghị quyết số 29-NQ/TW) và chính sách của Nhà nước được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật GDNN.
Về phương pháp luận, đề tài trình bày nguyên tắc SMART (Cụ thể - Đo lường được - Khả năng đạt được - Thực tế - Giới hạn thời gian) và sáu tiêu chí riêng áp dụng cho việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ của lĩnh vực GDNN (tính nhất quán với Chiến lược Phát triển dạy nghề 2011-2020; tầm nhìn trung và dài hạn có lượng hóa; rà soát mục tiêu không còn phù hợp với Luật GDNN; mục tiêu đo lường được dựa trên xu hướng và bài học kinh nghiệm; đặt mục tiêu trong mối liên hệ so sánh với khu vực ASEAN; và xem xét năng lực hệ thống chỉ tiêu thống kê, giám sát hiện có), được khái quát hóa thành khung phân tích các căn cứ xác định mục tiêu, nhiệm vụ GDNN giai đoạn 2016-2020. Đề tài cũng giới thiệu phương pháp luận theo dõi, đánh giá việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ gồm 5 tiêu chí giám sát dựa trên kết quả, quy trình 10 bước xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2004) và các tiêu chí thiết lập mục tiêu theo kinh nghiệm quốc tế của Liên Hợp Quốc trong giám sát các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
4.2. Chương 2: Đề tài đánh giá thực trạng xây dựng và thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực GDNN giai đoạn 2011-2015:
Đề tài tổng quan hệ thống văn bản pháp quy về mục tiêu, nhiệm vụ dạy nghề/GDNN qua các thời kỳ, gồm Luật Dạy nghề 2006, Nghị quyết số 29-NQ/TW và Luật GDNN, làm rõ thực trạng xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ thông qua ba văn bản chiến lược, đề án, dự án trọng tâm của ngành: Chiến lược Phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020, Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 (Đề án 1956) và Dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề, với các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể được lượng hóa chi tiết về quy mô đào tạo, mạng lưới cơ sở dạy nghề, đội ngũ giáo viên, chương trình - giáo trình và hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề.
Trên cơ sở đó, đề tài đánh giá tổng quan tình hình thực hiện các đề án, chương trình dạy nghề giai đoạn 2011-2015: bên cạnh các kết quả đạt được về mạng lưới cơ sở dạy nghề, quy mô đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế, đề tài chỉ ra một số chỉ tiêu của Chiến lược chưa đạt được như kế hoạch (mạng lưới trường cao đẳng nghề ngoài công lập, trường chất lượng cao, trung tâm kiểm định chất lượng vùng...). Đề tài cũng phân tích thực trạng hệ thống theo dõi, đánh giá hiện hành, gồm hai nhóm chỉ tiêu thống kê ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và khung giám sát, đánh giá của hai dự án trọng điểm (Dự án Đổi mới phát triển đào tạo nghề và Đề án 1956), từ đó nhận định hệ thống chỉ tiêu hiện hành phản ánh tốt về quy mô, năng lực đào tạo nhưng còn thiếu các chỉ tiêu phản ánh chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề. Chương này khép lại bằng việc tổng hợp các hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2011-2015 (mục tiêu đặt ra cao và còn chung chung, nguồn lực tài chính chưa bảo đảm, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương còn hạn chế, Luật GDNN có hiệu lực nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thi hành...), trong đó có dẫn nhận định của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2014) về những điểm chưa phù hợp của Chiến lược Phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011-2020.
4.3. Chương 3, trên cơ sở phân tích bối cảnh và xu hướng phát triển, đề tài khuyến nghị các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu lĩnh vực đào tạo nghề/GDNN giai đoạn 2016-2020:
Đề tài phân tích căn cứ xác định mục tiêu, nhiệm vụ từ hai bối cảnh: bối cảnh quốc tế - sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) tác động đến thị trường lao động và nhu cầu lao động có kỹ năng trong khu vực (xu hướng dịch chuyển lao động nội khối, nhu cầu việc làm có tay nghề cao và tay nghề thấp - trung bình, yêu cầu hài hòa khung tham chiếu trình độ ASEAN); và bối cảnh trong nước - kết quả phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 chưa đạt một số chỉ tiêu, quá trình Việt Nam gia nhập AEC và đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cùng những thay đổi căn bản về hệ thống, cơ cấu trình độ và loại hình cơ sở GDNN theo Luật GDNN có hiệu lực từ 01/7/2015.
Đề tài phân tích định hướng phát triển GDNN theo Luật GDNN với 9 điểm đổi mới căn bản so với Luật Dạy nghề trước đây (thống nhất 3 cấp trình độ sơ cấp - trung cấp - cao đẳng; trao quyền tự chủ tuyển sinh cho cơ sở GDNN; đổi mới tổ chức đào tạo theo mô đun, tín chỉ; đổi mới thời gian đào tạo; tạo bình đẳng giữa cơ sở công lập và tư thục; trao quyền tự chủ xây dựng chương trình đào tạo; đổi mới hình thức thi, kiểm tra theo hướng tích lũy năng lực; bổ sung chính sách thu hút người học; và xác định rõ hơn vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo nghề), cùng các nhân tố tác động khác như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 10 nhóm mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống GDNN giai đoạn 2016-2020, gồm:
(1) Đổi mới quản lý nhà nước hệ thống GDNN;
(2) Qui hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở GDNN;
(3) Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý GDNN;
(4) Triển khai và quản lý khung trình độ quốc gia, thiết lập hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;
(5) Phát triển chương trình, giáo trình đào tạo nghề nghiệp;
(6) Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo nghề nghiệp;
(7) Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng GDNN;
(8) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và nghiên cứu khoa học GDNN;
(9) Tăng cường xã hội hóa và gắn kết với doanh nghiệp trong đào tạo nghề;
(10) Tăng cường các hình thức tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển dạy nghề.
Đồng thời, đề tài cũng chỉ rõ một số mục tiêu, chỉ tiêu định lượng của giai đoạn trước không còn phù hợp cần điều chỉnh hoặc loại bỏ, liên quan đến quy mô mạng lưới cơ sở GDNN, cơ cấu trình độ tuyển sinh, chỉ tiêu đào tạo bồi dưỡng giáo viên, chương trình khung đào tạo và chỉ tiêu đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài kết luận rằng việc Luật GDNN có hiệu lực từ 01/7/2015 là nhân tố quyết định làm thay đổi cục diện của Chiến lược Phát triển dạy nghề và Chiến lược Phát triển giáo dục thời kỳ 2011-2020, đòi hỏi phải điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ cho giai đoạn mới theo hướng một Chiến lược Phát triển GDNN đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Đề tài kiến nghị Chính phủ sớm thống nhất phân công cơ quan quản lý nhà nước về GDNN ở trung ương, ban hành Khung trình độ quốc gia Việt Nam và phê duyệt điều chỉnh các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của các chiến lược liên quan; đồng thời kiến nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt việc điều chỉnh Chiến lược Phát triển Dạy nghề thành Chiến lược Phát triển GDNN đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và tổ chức thực hiện hiệu quả chiến lược này.
Thành viên đề tài:
ThS. Nguyễn Thị Hoàng Nguyên - Viện Khoa học Lao động và Xã hội; PGS.TS. Mạc Văn Tiến - Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề; TS. Đặng Xuân Hoan - Tổng thư ký Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực; TS. Phạm Tất Thắng - Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; ThS. Nguyễn Thanh Mai - Tổng cục Dạy nghề; CN. Lê Thị Thảo - Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề.
Từ khóa:
Giáo dục nghề nghiệp Đào tạo nghề Mục tiêu nhiệm vụ Chiến lược phát triển dạy nghề Cộng đồng ASEAN
|
Tên file |
View |
|
CT2015-01-02.pdf
|
Đăng nhập để xem
|