Các giải pháp thúc đẩy việc làm xanh ở Việt Nam

Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc

Năm đăng ký: 2013

Năm nghiệm thu: 2014

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế - Chương trình Môi trường Liên hợp quốc - Tổ chức Giới chủ Quốc tế - Liên minh Công đoàn Quốc tế thì: việc làm xanh là những việc làm trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và quản lý, đóng góp vào bảo vệ và gìn giữ chất lượng môi trường, đảm bảo xã hội phát triển bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai, thực hiện công bằng và bình đẳng cho mọi người.

Với cách hiểu như vậy, phạm vi của việc làm xanh rất rộng, từ những việc làm góp phần làm giảm phát thải khí nhà kính, giảm tiêu hao năng lượng nguyên nhiên vật liệu, tối thiểu hóa rác thải, giảm ô nhiễm không khí đất và nguồn nước trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đến việc làm trong các ngành góp phần bảo vệ sự đa dạng của sinh thái và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đặc trưng của việc làm bền vững là thu nhập thỏa đáng và có cơ hội phát triển, đảm bảo quyền và tiếng nói của người lao động, thực hiện cơ chế đối thoại xã hội, đảm bảo an sinh xã hội.

Phát triển việc làm xanh có thể quy về bốn loại: (i) Xanh hóa việc làm hiện tại (ii) tạo thêm việc làm trong các ngành chế tạo thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường (iii) phát triển những ngành nghề mới xanh hóa (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng thủy triều, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ rừng…) và (iv) tạo ra những việc làm để giảm thiểu và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Những ngành có nhiều tiềm năng là cung cấp năng lượng (năng lượng mặt trời, gió, thủy triều, địa nhiệt, thủy điện nhỏ), vận tải, công nghiệp cơ bản (thép, xi măng, hóa chất, dệt nhuộm, giấy và bột giấy, khai thác khoáng sản...), xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, bán lẻ, du lịch.... Các nỗ lực phát triển việc làm xanh có thể đến từ mọi tầng lớp hoạt động ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, từ nhà quản lý, thiết kế, quy hoạch, nhà khoa học, giảng viên cho đến doanh nhân, lao động trực tiếp là công nhân lành nghề hay lao động phổ thông. Các khu vực nông thôn, thành thị, các nước đã và đang phát triển, đặc biệt là lợi ích cho thanh niên, phụ nữ, nông dân, người nghèo, lao động trong khu vực không chính thức, dễ bị tổn thương, người sống trong các khu nhà tạm bợ, dột nát....

Yêu cầu đối với việc làm xanh trong các mô hình phát triển bền vững là phải tiến tới việc làm bền vững - đó là các cơ hội đạt được việc làm đàng hoàng và năng suất cho cả lao động nữ và lao động nam trong điều kiện tự do, bình đẳng, an sinh và tôn trọng nhân phẩm. Để thực hiện được những mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo (MDG 1) và bảo vệ môi trường (MDG 7) thì sự gắn kết chặt chẽ giữa việc làm xanh và việc làm bền vững là một đòi hỏi tất yếu. Trên thực tế, có hoàn thành mục tiêu giảm nghèo - mà nòng cốt là việc làm bền vững, thì mới có điều kiện để bảo vệ tốt môi trường và ngược lại, có bảo vệ được môi trường thì giảm nghèo mới có chiều sâu và đảm bảo bền vững.

Hiện nay trên thế giới đang đặt ra nhiều thách thức đối với việc đảm bảo việc làm xanh. Về kinh tế, khắc phục hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới chưa được bao lâu thì những bất bình đẳng trong hưởng lợi từ tăng trưởng, hoặc tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ tay nghề thấp, tăng trưởng nhưng không làm tăng việc làm hay khai thác cạn kiệt tài nguyên đã làm sâu sắc thêm các thách thức toàn cầu. Đứng trước những thách thức đó, phát triển bền vững đang là con đường duy nhất cho phép tất cả nhân loại chia sẻ một cuộc sống đầy đủ và thịnh vượng. Yêu cầu một nền kinh tế xanh và sạch, tạo nhiều việc làm đồng thời với tăng năng suất, tăng thu nhập, giảm nghèo và giảm bất bình đẳng xã hội đang trở thành những nhiệm vụ chiến lược của mọi quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Việc làm xanh đòi hỏi một nhận thức mới không chỉ với các nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển. Hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau và còn rất nhiều rào cản để đưa những ý tưởng tốt đẹp của việc làm xanh vào thực tiễn cuộc sống. Với trình độ phát triển còn thấp như Việt Nam thì những rào cản lớn nhất có thể kể ra là:

Hạn chế về nhận thức: đòi hỏi bắt đầu từ ý tưởng xanh của những người lãnh đạo, những người làm chính sách, nhà thiết kế... cho đến đội ngũ công nhân trực tiếp sản xuất và mọi người dân trong xã hội. Từ suy nghĩ đến hoạch định kế hoạch và triển khai hành động là cả một bước đường dài đòi hỏi sự quan tâm và thống nhất hành động của mọi đối tác xã hội.

Yêu cầu gắn kết việc làm xanh với việc làm bền vững: giải quyết các vấn đề xã hội như thất nghiệp, đói nghèo, bất bình đẳng, lao động độc hại, nặng nhọc, nguy hiểm trong các làng nghề, lao động dễ bị tổn thương trong khu vực không chính thức, đối tượng yếu thế trên thị trường lao động, người chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu đã là những nhiệm vụ lâu dài rất khó khăn, nay phải lồng ghép với những vấn đề toàn cầu như bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu thì thách thức càng trở nên gay gắt gấp bội lần.

Chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, khung khổ thể chế của Việt Nam còn là những điểm cản trở lớn trong quá trình phát triển: những cản trở này những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến việc xây dựng chiến lược, kế hoạch và triển khai các chương trình hành động mới để lồng ghép thực hiện đồng thời được các nhiệm vụ kinh tế - xã hội - môi trường.

Chi phí xã hội và áp lực của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh: cạnh tranh trong nước và quốc tế đã ngày càng khốc liệt, lại thêm những khó khăn do chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng nợ công ở các nước châu Âu và biến động tăng giá nhiên liệu, giá lương thực trên quy mô toàn cầu sẽ làm nặng thêm gách nặng của doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển. Những chi phí xã hội tăng thêm để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng xanh và thực hiện việc làm xanh trong doanh nghiệp sẽ là rào cản lớn hướng tới nền kinh tế xanh của tương lai. Do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Các giải pháp thúc đẩy phát triển việc làm "xanh" ở Việt Nam".

2. Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích, đánh giá bản chất, nội dung cơ bản và các nhân tố tác động đến việc làm "xanh", các chỉ tiêu đánh giá và khung phương pháp luận đánh giá việc làm xanh; phân tích các cơ hội, mối đe dọa và thách thức của việc phát triển nền kinh tế xanh tới thị trường lao động Việt Nam; dự báo khả năng phát triển việc làm "xanh"; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển việc làm "xanh" ở Việt Nam đến năm 2020.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc của báo cáo bao gồm 3 chương:

Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển việc làm xanh.

Chương II. Thực trạng việc làm xanh ở Việt Nam.

Chương III. Các giải pháp thúc đẩy việc làm xanh đến năm 2020.

 

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển việc làm xanh

Chương này tập trung luận giải các khái niệm cốt lõi về kinh tế xanh và việc làm xanh. Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP), kinh tế xanh là nền kinh tế phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội. Đề tài thống nhất định nghĩa việc làm xanh là những công việc trong các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quản lý) góp phần bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển bền vững. Đặc biệt, nghiên cứu nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa việc làm xanh và việc làm bền vững (decent work) thông qua mô hình biểu đồ Venn, khẳng định việc làm xanh lý tưởng phải đồng thời là việc làm bền vững.

Đề tài phân tích các nhân tố tác động đến việc làm xanh bao gồm: cầu hàng hóa dịch vụ xanh, trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao động, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và nguồn tài nguyên đầu vào. Phương pháp luận nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ các hoạt động kinh tế, chia làm 4 loại: cốt lõi, kết nối, phụ thuộc và các hoạt động khác.

Về kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đi sâu vào bài học của Hàn Quốc và Mỹ. Hàn Quốc coi chiến lược tăng trưởng xanh là tầm nhìn quốc gia toàn diện, tập trung vào cải cách năng lượng và tạo việc làm thông qua cách mạng xanh trong đời sống. Từ đó, đề tài rút ra 6 bài học cho Việt Nam về: (1) Thay đổi nhận thức từ nền kinh tế "nâu" sang "xanh"; (2) Hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ; (3) Lựa chọn mô hình tăng trưởng phù hợp; (4) Phát triển kỹ năng xanh; (5) Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi; (6) Huy động đa dạng các nguồn lực.

4.2. Chương II: Thực trạng việc làm xanh ở Việt Nam

Nghiên cứu đánh giá thực trạng nhận thức và khung khổ pháp lý tại Việt Nam. Kết quả cho thấy nhận thức của doanh nghiệp và người dân về việc làm xanh còn yếu và khiêm tốn. Khung khổ pháp lý tuy đã có nỗ lực hình thành từ sau Hội nghị RIO 1992 nhưng vẫn chưa đồng bộ; khái niệm "việc làm xanh" chưa được luật hóa chính thức trong các văn bản pháp lý quan trọng như Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề.

Về thực trạng việc làm trong các ngành xanh, đề tài phân loại 10 ngành xanh dựa vào hệ thống mã ngành kinh tế quốc dân (VSIC). Phân tích số liệu tổng điều tra doanh nghiệp năm 2010 và 2012 chỉ ra rằng quy mô lao động trong các ngành trực tiếp bảo vệ môi trường còn rất thấp (chiếm khoảng 1,2% tổng lao động doanh nghiệp). Trong nội bộ các ngành xanh, hoạt động xử lý rác thải rắn và lỏng chiếm tỷ trọng lao động lớn nhất (59,08% năm 2012), tiếp đến là khai thác nước sạch và vệ sinh văn phòng.

Nghiên cứu cũng chỉ ra các "điểm nghẽn" trong quá trình phát triển tại Việt Nam: (1) Mô hình tăng trưởng thâm dụng vốn và tài nguyên; (2) Trình độ công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng cao; (3) Chất lượng nguồn nhân lực thiếu hụt kỹ năng xanh; (4) Áp lực chi phí và cạnh tranh đối với doanh nghiệp.

4.3. Chương III: Các giải pháp thúc đẩy việc làm xanh ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích bối cảnh và dự báo đến năm 2020, đề tài ước tính nhu cầu việc làm trong một số ngành xanh: ngành điện (thủy điện, gió, sinh khối) cần khoảng 52,2 nghìn lao động; ngành giao thông vận tải xanh cần 463 nghìn lao động và hoạt động xử lý tái chế chất thải cần tới 1,2 triệu lao động.

Hệ thống giải pháp được đề xuất gồm:

Nhóm giải pháp chung: Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức từ cấp vĩ mô đến vi mô; Hoàn thiện khung pháp lý về thuế tài nguyên, tiêu chuẩn nhãn sinh thái; Lồng ghép nội dung việc làm xanh vào các chiến lược phát triển nhân lực và an sinh xã hội.

Thúc đẩy cung - cầu lao động: Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng quy trình sản xuất sạch thông qua các ưu đãi tài chính; Phát triển thị trường công nghệ xanh và hình thành các ngành công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo.

Đào tạo kỹ năng xanh: Xây dựng các chương trình đào tạo nghề thích ứng với kinh tế xanh; đưa kiến thức môi trường vào hệ thống giáo dục phổ thông; đào tạo lại cho lao động trong các ngành "nâu" bị ảnh hưởng bởi quá trình chuyển đổi.

An sinh xã hội: Chú trọng bảo vệ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (phụ nữ, người nghèo, lao động khu vực phi chính thức) trong quá trình xanh hóa nền kinh tế.

Cơ chế thực hiện: Sử dụng cơ chế đối thoại ba bên (Chính phủ - Doanh nghiệp - Công đoàn) và huy động nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước kết hợp với tín dụng xanh.

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Thị Hạnh (Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH); ThS. Giản Thành Công (Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH); TS. Bùi Thái Quyên (Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH); ThS. Trần Thị Ngọc Anh (Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH);CN. Nguyễn Thị Hải Yến (Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB&XH); ThS. Phạm Minh Đức (Trung tâm Lao động ngoài nước); TS. Ngô Văn Vượng (Tổng công ty GAET, Bộ Quốc phòng).

Từ khóa: Phát triển bền vững Việc làm xanh Kinh tế xanh Việt Nam Tăng trưởng xanh Kỹ năng xanh Bảo vệ môi trường

Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |