Các giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi

Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Thanh Hà

Năm đăng ký: 2019

Năm nghiệm thu: 2019

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Người cao tuổi giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với gia đình và xã hội khi là người lưu giữ, bảo vệ, truyền lại các giá trị lịch sử, tri thức và kinh nghiệm cho thế hệ sau, đồng thời đóng góp tích cực vào các hoạt động cộng đồng. Nhận thức được tầm quan trọng này, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt để nâng cao hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội cho đối tượng này, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011 với tốc độ nhanh chóng. Dự báo đến năm 2038, nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên sẽ đạt khoảng hơn 21 triệu người (chiếm 20% tổng dân số) và lên đến 27 triệu người (chiếm 25%) vào năm 2050. Thực tế hiện nay cho thấy một bộ phận không nhỏ người cao tuổi đang đối mặt với cuộc sống khó khăn do không có tích lũy cho tuổi già, phải tự mưu sinh, cô đơn không nơi nương tựa, thiếu cơ hội đào tạo nghề hay vay vốn phát triển sản xuất. Đồng thời, sự suy giảm sức khỏe, những biến đổi rõ rệt về tâm sinh lý dẫn đến lo âu, trầm cảm, cô độc kết hợp với xu hướng thu hẹp quy mô gia đình hiện đại khiến nhu cầu về dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi ngày càng tăng nhanh. Ở góc độ hội nhập quốc tế và an sinh xã hội, mô hình chăm sóc người cao tuổi tại nước ta hiện nay chủ yếu vẫn thực hiện tại các trung tâm tập trung bằng ngân sách nhà nước vốn có giới hạn, trong khi các cơ sở tư nhân có quy mô còn hạn chế. Do đó, việc đẩy mạnh đầu tư phát triển hệ thống dịch vụ xã hội tại cộng đồng là nhu cầu bức thiết và có tính khả thi cao khi thu nhập người dân đang tăng lên. Từ những khoảng trống trong các nghiên cứu chuyên sâu trước đây tại Việt Nam về mảng phát triển dịch vụ xã hội tại cộng đồng, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài này nhằm đưa ra các giải pháp thực tiễn thiết thực.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá các dịch vụ xã hội và việc tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng của người cao tuổi; phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội tại cộng đồng của người cao tuổi, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội tại cộng đồng của người cao tuổi.

Mục tiêu cụ thể:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi;

Phân tích các kinh nghiệm quốc tế về việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi;

Mô tả thực trạng các dịch vụ xã hội tại cộng đồng cho người cao tuổi và đánh giá thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng của người cao tuổi

Phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng của người cao tuổi;

Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi.

3. Kết cấu của đề tài

Báo cáo tổng hợp đề tài gồm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận về tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi

Chương 2. Thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi

Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1. Cơ sở lý luận về tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi

Nội dung chương này tập trung làm rõ hệ thống khái niệm công cụ làm nền tảng cho toàn bộ đề tài. Đầu tiên, dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Người cao tuổi năm 2009, khái niệm “Người cao tuổi” trong nghiên cứu được xác định thống nhất là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Khái niệm “Nhu cầu của người cao tuổi” được hiểu là những đòi hỏi, mong muốn chính đáng nhằm ổn định đời sống vật chất và tinh thần của họ, bao gồm các nhu cầu đặc thù về sức khỏe, khám chữa bệnh, tâm lý tình cảm, hoạt động xã hội, vui chơi giải trí và sinh kế. Nghiên cứu định nghĩa “Cộng đồng” là tập hợp người có mối quan hệ, đặc điểm văn hóa tương đồng, cùng chung sống trên một địa bàn và có chung quyền lợi. Thuật ngữ “Dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi” được xác định là chuỗi các hoạt động chuyên môn do các cơ sở xã hội (công lập và ngoài công lập) thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và chuyên sâu của người cao tuổi tại nơi họ sinh sống. Từ đó, khái niệm “Tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi” được hiểu chính là khả năng người cao tuổi ở cộng đồng có thể tiếp cận và sử dụng được các dịch vụ này để phục vụ bản thân.

Bên cạnh các khái niệm, chương 1 đi sâu phân tích các khía cạnh lý luận về nhu cầu và dịch vụ xã hội. Người cao tuổi có các nhu cầu đa dạng: nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất thông qua dinh dưỡng, tập luyện; nhu cầu khám chữa bệnh do gánh nặng bệnh tật tuổi già tăng cao; nhu cầu được chia sẻ tâm lý tình cảm để giải tỏa sự cô đơn, mặc cảm gánh nặng; nhu cầu tham gia hoạt động xã hội để thấy mình có ích; nhu cầu vui chơi giải trí lành mạnh; nhu cầu phát triển sinh kế đảm bảo thu nhập; và các nhu cầu khác như tái hôn, tình dục, giáo dục. Hệ thống cơ sở cung ứng dịch vụ được chia thành cơ sở công lập (các trung tâm bảo trợ xã hội hỗn hợp, trung tâm công tác xã hội) và cơ sở tư nhân (các viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc tư nhân) vận hành theo các phương pháp cung cấp dịch vụ toàn thời gian dài hạn, ngắn hạn, chăm sóc tại nhà hoặc chăm sóc bán trú ban ngày. Các dịch vụ xã hội được phân loại rõ ràng theo tính chất (thuần công, không thuần công), theo chủ thể cung ứng (nhà nước, doanh nghiệp tư nhân) và theo cơ chế tài chính (nhà nước trả phí, người dùng trả một phần hoặc trả toàn bộ). Đồng thời, chương 1 cũng chỉ ra các rào cản hạn chế hiệu quả tiếp cận của người cao tuổi như sự sẵn có của dịch vụ, rào cản chính sách, mức độ chấp nhận văn hóa, thủ tục hồ sơ kinh phí, thông tin truyền thông và đặc điểm tự thân của người cao tuổi, làm tiền đề phân tích kinh nghiệm quốc tế để rút ra các bài học kinh nghiệm phù hợp cho Việt Nam.

Chương 2. Thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi

Chương này khái quát thực trạng người cao tuổi và hệ thống dịch vụ xã hội tại Việt Nam nói chung cũng như tại ba địa bàn nghiên cứu (Hà Nội, Quảng Ninh, Yên Bái) nói riêng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra thực trạng cung cấp dịch vụ xã hội tại cộng đồng hiện nay còn nhiều hạn chế: số lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ còn khá ít, chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn; đội ngũ nhân viên vừa thiếu về số lượng vừa yếu về nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn. Các cơ sở công lập hiện nay hầu hết là các trung tâm bảo trợ xã hội hỗn hợp chăm sóc chung nhiều đối tượng chứ chưa có trung tâm cung cấp dịch vụ riêng biệt chuyên sâu cho người cao tuổi, gây hạn chế lớn cho việc tiếp cận. Ngược lại, các cơ sở tư nhân đang phát triển linh hoạt với các gói dịch vụ đa dạng từ nội trú dài hạn, ngắn hạn đến bán trú ban ngày và chăm sóc tại nhà, tuy nhiên mức chi phí, kinh phí dịch vụ (dao động từ vài trăm nghìn một ngày đến hàng chục triệu một tháng) vẫn còn khá cao so với mức thu nhập của đại đa số người cao tuổi.

Về thực trạng tiếp cận, lý do người cao tuổi tìm đến dịch vụ xã hội rất đa dạng, xuất phát từ việc không có người chăm sóc do con cháu bận rộn trong xã hội hiện đại, do nhu cầu điều trị bệnh tật, mong muốn giải tỏa cảm xúc cô đơn, nhu cầu tự chủ sức khỏe không muốn làm gánh nặng cho con cái, hay nhu cầu tiếp tục lao động sản xuất để khẳng định giá trị bản thân. Kênh tìm hiểu thông tin dịch vụ của người cao tuổi có sự phân hóa theo độ tuổi: nhóm trên 70 tuổi phụ thuộc lớn vào việc tìm hiểu của con cái; nhóm từ 60 đến 70 tuổi thường tiếp cận qua sách báo, đài, tivi, bạn bè, hệ thống loa truyền thanh xã phường, bảng tin cộng đồng hoặc hiệu quả nhất là qua các buổi họp dân phố, sinh hoạt chi bộ có sự lồng ghép tuyên truyền. Khi tiếp cận dịch vụ dài hạn tại các trung tâm, người cao tuổi và gia đình phải đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về đối tượng phục vụ (người già yếu, tai biến ổn định, khuyết tật, suy giảm trí nhớ) và hoàn thiện các thủ tục hồ sơ pháp lý phức tạp (đơn đăng ký, hợp đồng cam kết, người bảo lãnh, hộ khẩu, chứng minh nhân dân, bệnh án). Đánh giá chung cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, hiệu quả tiếp cận vẫn gặp nhiều rào cản lớn do hệ thống dịch vụ phát triển chưa đồng bộ, độ bao phủ thấp, thông tin chưa đầy đủ, kết hợp với các định kiến văn hóa, phong tục tập quán kỳ thị việc đưa cha mẹ vào trung tâm dưỡng lão, làm giảm đáng kể khả năng hưởng lợi của người cao tuổi ở cộng đồng.

Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận dịch vụ xã hội ở cộng đồng cho người cao tuổi

Nội dung chương cuối tập trung phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến dịch vụ xã hội, đồng thời định hình các quan điểm chỉ đạo phát triển hệ thống dịch vụ tại cộng đồng cho người cao tuổi theo hướng toàn diện và bền vững. Trên cơ sở khung phân tích thực trạng và các yếu tố tác động, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi để nâng cao hiệu quả tiếp cận dịch vụ. Trước hết là nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, tập trung vào việc hoàn thiện luật pháp, mở rộng diện bao phủ và hỗ trợ tài chính cho các mô hình dịch vụ. Thứ hai là nhóm giải pháp đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội, yêu cầu đa dạng hóa các gói dịch vụ, cải tiến quy trình, thủ tục hồ sơ, nâng cao chất lượng trang thiết bị và hạ tầng kỹ thuật. Thứ ba là nhóm giải pháp đối với đội ngũ cán bộ, nhấn mạnh công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ công tác xã hội và thái độ phục vụ của nhân viên, cộng tác viên. Thứ tư là nhóm giải pháp đối với cộng đồng và truyền thông, nhằm đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, internet, lồng ghép vào hoạt động khu dân cư để nâng cao nhận thức, xóa bỏ hoàn toàn các định kiến, kỳ thị văn hóa đối với việc sử dụng dịch vụ chăm sóc. Cuối cùng là nhóm giải pháp hướng tới đối tượng và gia đình, hỗ trợ nâng cao năng lực tự chăm sóc, phổ biến kiến thức dinh dưỡng, y tế tại nhà và tạo điều kiện sinh kế phù hợp để người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống có ích tại cộng đồng.

Thành viên đề tài:

Từ khóa: Người cao tuổi Dịch vụ xã hội

Tên file View
CB 2019 – 12 Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |