Bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Năm đăng ký: 2017

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Di cư là một xu thế tất yếu của quá trình phát triển với quy mô tăng trưởng liên tục tại Việt Nam, từ 4,5 triệu người năm 1999 lên 6,5 triệu người năm 2009, tập trung chủ yếu vào các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và đóng góp tới 20% GDP khu vực thành thị. Tuy nhiên, lao động di cư hiện nay vẫn là nhóm yếu thế khi phần lớn làm công việc nặng nhọc, giản đơn trong khu vực phi chính thức, thu nhập bấp bênh, điều kiện sống tạm bợ và không có hợp đồng lao động hay bảo hiểm xã hội. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, việc bảo đảm an sinh xã hội cho nhóm này vẫn còn nhiều bất cập, rào cản cư trú (hộ khẩu) và việc thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết khiến họ khó tiếp cận nguồn vốn, dịch vụ công, đặt ra yêu cầu cấp bách phải nghiên cứu giải pháp tăng cường an sinh xã hội cho lao động di cư.

2. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu chung của đề tài là đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng các chính sách an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước. Để đạt được điều đó, đề tài thực hiện các mục tiêu cụ thể bao gồm hệ thống hóa lý luận, tổng quan kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng tiếp cận chính sách an sinh xã hội của lao động di cư và đề xuất giải pháp toàn diện cho giai đoạn tới.

3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước. Phạm vi nghiên cứu tập trung cụ thể vào việc bảo đảm an sinh xã hội (gồm hỗ trợ việc làm, tham gia bảo hiểm xã hội, tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở) đối với lao động di cư tự do vào thành thị làm việc ở khu vực phi chính thức trên địa bàn cả nước, trong dòng thời gian đánh giá từ năm 2010 đến 2016 và định hướng giải pháp 2017-2025.

4. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài phối hợp sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu thứ cấp, phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học thông qua phỏng vấn sâu 30 lao động di cư làm việc ở khu vực phi chính thức tại Hà Nội (bao gồm chủ cơ sở nhỏ, người bán hàng rong, thợ may, cửu vạn, thợ xây, người giúp việc).

5. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước.

Chương 2: Đánh giá thực trạng bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước.

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước.

6. Nội dung chính của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước

Để thiết lập nền tảng lý thuyết vững chắc, đề tài bắt đầu bằng việc chuẩn hóa khái niệm về lao động di cư vào thành thị làm việc ở khu vực phi chính thức, xác định rõ nhóm đối tượng này nằm trong độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi, dịch chuyển cư trú đến đô thị để tự làm hoặc làm thuê trong các hộ kinh doanh cá thể. Qua tổng quan các lý thuyết di dân, nghiên cứu chỉ ra rằng quá trình đô thị hóa, sự thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp và đặc biệt là sự chênh lệch mức sống rõ rệt giữa nông thôn và thành thị là những lực đẩy – lực kéo cốt lõi thúc đẩy các dòng lao động dịch chuyển, bên cạnh nhu cầu học tập và tiếp cận văn minh đô thị của nhóm lao động trẻ. Dưới góc độ quyền con người và các công ước quốc tế của ILO, lao động di cư chính danh hoàn toàn có quyền hưởng sự bình đẳng không phân biệt đối xử về điều kiện làm việc và an sinh xã hội. Từ đó, nội dung bảo đảm an sinh xã hội được cụ thể hóa thông qua ba trụ cột chính là chính sách bảo đảm thu nhập tối thiểu (hỗ trợ việc làm), chính sách bảo hiểm xã hội và chính sách hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết thân của người lao động. Sự thành công của hệ thống này chịu ảnh hưởng lớn từ thể chế chính sách, năng lực tổ chức thực hiện và mối quan hệ biện chứng giữa các đối tác xã hội bao gồm khu vực nhà nước, tư nhân cùng các tổ chức chính trị - xã hội. Cuối cùng, bằng việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá toàn diện từ văn bản chính sách đến thực tế tiếp cận, kết hợp với đúc kết kinh nghiệm từ Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, đề tài đã rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc xây dựng các mô hình bảo hiểm linh hoạt, đào tạo nghề và hỗ trợ giáo dục cho con em người di cư.

Chương 2: Đánh giá thực trạng bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước tại Việt Nam

Phân tích thực trạng giai đoạn 2012-2016 cho thấy xu hướng dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị tăng nhanh, trong đó lao động di cư vào khu vực phi chính thức tăng mạnh từ 2,5 triệu người lên hơn 4,4 triệu người, chiếm tới 68,20% tổng số lao động di cư đô thị. Lực lượng này chủ yếu ở độ tuổi trung niên, thiếu trình độ chuyên môn kỹ thuật và tập trung cao vào các nghề dịch vụ bấp bênh, thợ thủ công hoặc lao động giản đơn ngoài trời, trong chợ với thời gian làm việc kéo dài cả ngày lẫn đêm. Dù thu nhập bình quân của nhóm này có xu hướng tăng nhẹ đạt mức 5,035 triệu đồng vào năm 2016, cao hơn lao động di cư khu vực chính thức nhưng vẫn thấp hơn người bản địa và bản chất công việc của họ không hề ổn định. Phần lớn người lao động không có ý định định cư vĩnh viễn mà chỉ muốn tích lũy tài sản rồi quay về quê hương, tuy nhiên họ đang phải đối mặt với rào cản rất lớn về trình độ khi có tới 89,15% không có chuyên môn kỹ thuật. Hệ thống chính sách hiện tại chưa có quy định riêng cho người di cư mà lồng ghép chung, bộc lộ nhiều hạn chế về thủ tục vay vốn dựa trên hộ khẩu và hệ thống đào tạo nghề chưa đánh trúng nhu cầu thực tế của thị trường.

Sự thiếu hụt hệ thống an sinh chuyên biệt tiếp tục kéo theo những hệ lụy lớn trong việc tiếp cận các quyền lợi cơ bản của người lao động di cư. Đối với bảo hiểm xã hội, thiết kế chính sách bảo hiểm tự nguyện kém hấp dẫn khi chỉ có 2 chế độ (hưu trí, tử tuất) so với 5 chế độ của bảo hiểm bắt buộc, thời gian đóng tối thiểu 20 năm quá dài và thiếu chế độ nghỉ hưu sớm do suy giảm lao động, khiến đại đa số người di cư không mặn mà tham gia; chưa kể công tác tuyên truyền của ngành bảo hiểm còn yếu kém dẫn đến trên 91% lao động được khảo sát hoàn toàn mù tịt về Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội. Trên phương diện giáo dục, con em người di cư chịu thiệt thòi lớn khi tỷ lệ trẻ em không được đi học tại các vùng nhập cư như Đông Nam Bộ lên tới một phần ba do hoàn cảnh gia đình nghèo và rào cản từ quy định tuyển sinh công lập ưu tiên hộ khẩu thường trú, buộc họ phải trả chi phí trái tuyến đắt đỏ hoặc gửi con về quê. Tương tự, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của nhóm này vô cùng khiêm tốn (chỉ đạt 14,3% năm 2016) do nhận thức hạn chế, thủ tục rườm rà, quy định mua theo hộ gia đình cứng nhắc và tấm thẻ y tế thiếu đi "tính di động" khi khám chữa bệnh trái tuyến. Về vấn đề nhà ở, có tới 42,6% người di cư coi đây là khó khăn lớn nhất khi phải sống trong các khu trọ chật hẹp, tạm bợ, thiếu thốn tiện nghi và chịu chi phí sinh hoạt cao do không đáp ứng được quy định đăng ký tạm trú, thường trú. Trước những lỗ hổng lớn của mạng lưới an sinh nhà nước, người lao động di cư hiện nay chủ yếu phải dựa vào sự đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau mang tính tự phát từ mạng lưới gia đình, dòng họ, đồng hương và một số dự án hỗ trợ ít ỏi từ các tổ chức phi chính phủ.

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư trong nước

Dự báo giai đoạn 2018-2025 cho thấy quy mô lao động di cư tự do vào thành thị làm việc ở khu vực phi chính thức sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ, dự kiến vượt mức 10,5 triệu người vào năm 2025, đặt ra thách thức lớn về quản lý nhà nước và áp lực lên hạ tầng đô thị. Để giải quyết bài toán này, đề tài thống nhất quan điểm cần nhìn nhận di cư như một quy luật tất yếu và là một nguồn lực kinh tế tích cực đóng góp cho tăng trưởng, thay vì coi đó là một "vấn đề xã hội" tiêu cực; từ đó đòi hỏi chính quyền các cấp phải bảo đảm sự bình đẳng, đổi mới chính sách quản lý dân cư để cân bằng lợi ích giữa người di cư và người không di cư. Hệ thống giải pháp cốt lõi trước hết là phải hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội bằng việc xây dựng kế hoạch đào tạo nghề dài hạn, thành lập các "chợ lao động" tại cửa ngõ và giao cho các Trung tâm giới thiệu việc làm làm đầu mối thông tin. Song song đó, ngành bảo hiểm cần điều chỉnh tăng tính hấp dẫn của bảo hiểm xã hội tự nguyện, mở rộng tuyên truyền qua hệ thống cộng tác viên đoàn thể, đồng thời xóa bỏ hạn chế nơi khám chữa bệnh ban đầu của bảo hiểm y tế, vận động các trường học tiếp nhận con em người di cư bình đẳng và khuyến khích xây dựng các khu nhà ở xã hội giá rẻ.

Ở tầm vĩ mô và phối hợp liên ngành, đề tài đề xuất một lộ trình cải cách thể chế mang tính đột phá nhằm thay đổi diện mạo quản lý an sinh cho người di cư. Giải pháp căn cơ là chuyển đổi triệt để hệ thống quản lý dân cư từ việc dựa vào sổ hộ khẩu sang quản lý theo tình trạng công dân di động nhằm xóa bỏ phân biệt đối xử hành chính, đồng thời tạo mối liên kết kinh tế chặt chẽ giữa đô thị và nông thôn thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thu hút doanh nghiệp về nông thôn để thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”. Đề tài cũng quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các bên liên quan: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần nghiên cứu xây dựng Luật Lao động di cư trong nước; Bộ Xây dựng kiểm soát giá nhà trọ; Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến tới xóa bỏ ràng buộc thủ tục khi nhập học; Bộ Y tế thực hiện thông tuyến tỉnh; các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tăng cường kiểm tra giám sát và bản thân người lao động cũng phải chủ động tìm hiểu thông tin để tự bảo vệ mình. Cuối cùng, đối với các địa phương nhập cư, Ủy ban nhân dân các cấp phải đưa lao động di cư vào quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chung, ưu tiên giải quyết nhanh các nhu cầu về nhà ở giá rẻ, trường học, trạm y tế, từ đó tạo lập một môi trường sống an toàn, ổn định giúp người lao động yên tâm lạc nghiệp và cống hiến.

Phần kết luận

Nghiên cứu khẳng định lao động di cư khu vực phi chính thức là một bộ phận cấu thành quan trọng đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung, nhưng họ lại đang chịu thiệt thòi lớn khi tỷ lệ tham gia an sinh xã hội chính thức vô cùng thấp (chỉ khoảng 0,5% tổng số lao động phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện). Nguyên nhân gốc rễ nằm ở việc làm bấp bênh, thu nhập thấp, nhận thức hạn chế và những rào cản rườm rà từ thủ tục hành chính, đặc biệt là quy định mua bảo hiểm y tế theo hộ gia đình. Mặc dù nhu cầu tiếp cận an sinh xã hội của người di cư là rất lớn, hệ thống hiện tại chưa tạo đủ niềm tin và sự thuận lợi cho họ. Do đó, việc triển khai đồng bộ các giải pháp mà đề tài đã đề xuất — từ hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao vai trò của chính quyền địa phương hai đầu nơi đi - nơi đến, cho đến phát huy các đối tác xã hội — có ý nghĩa quyết định nhằm mở rộng lưới an sinh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho lực lượng lao động di cư tại Việt Nam.

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Bích Ngọc, Viện KHLĐ&XH, Bộ LĐ-TB&XH TS. Nguyễn Hồng Cẩm, Đại học Công Đoàn ThS. Tào Bằng Huy, Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB&XH TS. Quách Thị Quế, Viện KHLĐ&XH, Bộ LĐ-TB&XH ThS. Nguyễn Thị Thanh Hà, Viện KHLĐ&XH, Bộ LĐ-TB&XH ThS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Viện KHLĐ&XH, Bộ LĐ-TB&XH ThS. Triệu Thị Phượng, Viện KHLĐ&XH, Bộ LĐ-TB&XH CN. Trần Việt Dũng, Viện KHLĐ&XH, Bộ LĐ-TB&XH

Từ khóa: An sinh xã hội Lao động di cư Việt Nam

Tên file View
20260618132121-1030dtcb-2017--an-sinh-xa-hoi-cho-lao-dong-di-cu---bctt.pdf Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |