Nghiên cứu cơ sở khoa học bảo quản tài liệu Mộc bản
Chủ nhiệm:
Ths. Nguyễn Thị Hà
Năm đăng ký:
2008
Năm nghiệm thu:
2010
Tóm tắt:
Nghiên cứu cơ sở khoa học bảo quản tài liệu Mộc bản
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Thị Hà
Năm đăng ký : 2008
Năm nghiệm thu cơ sở: 2010
Xếp loại: Khá
Mục tiêu của đề tài: Khảo sát hiện trạng tài liệu mộc bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV; Phân tích cơ sở khoa học, ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ, độ ẩm tới quá trình bảo quản; đề xuất các giải pháp để bảo vệ an toàn tài liệu mộc bản.
Kết cấu của đề tài: gồm 4 chương
Chương 1: Thực trạng công tác bảo quản mộc bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV.
Chương 2: Cơ sở khoa học bảo quản tài liệu mộc bản.
Chương 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm tới quá trình bảo quản mộc bản.
Những nội dung chính của đề tài:
Nghiên cứu sự hình thành tài liệu khắc in mộc bản, khảo sát hiện trạng thực tế và phương pháp bảo quản mộc bản ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứuđã lập phiếu điều tra khảo sát và có tổng kết, viết báo cáo về công tác bảo quản mộc bản ở một số nơi như: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, chùa Keo, Viện Bảo tàng Lịch sử, Viện Hán nôm, Bảo tàng Hà Nội để rút ra những cơ sở thực tế về công tác bảo quản mộc bản này. Riêng tại Trung tâm LTQG IV ở Đà Lạt ngoài việc điều tra khảo sát đánh giá tình trạng mộc bản trên cơ sở xây dựng mẫu phiếu khảo sát, chúng tôi còn kết hợp với các chuyên gia về gỗ khảo sát, phân loại, xác định trực quan về loại gỗ và đánh giá thực trạng tài liệu mộc bản đang bảo quản ở đây. Kết quả khảo sát đã cho thấy hơn 66% tài liệu mộc bản bị nứt; 28% bị cong vênh; 23% bị tróc sơn và hơn 5% bị mục( kết quả này được tổng hợp trên tổng số 2764 tấm mộc bản đã khảo sát thực tế).
Từ kết quả khảo sát bằng trực quan của các chuyên gia gỗ kêt hợp với các kết quả nghiên cứu đặc điểm cấu tạo thô đại và hiển vi của một số mẫu gỗ mộc bản đặc trưng được tiến hành làm thí nghiệm tại Trường Đại học Lâm nghiệp, nhóm đề tài đã xác định được loại gỗ của mộc bản chính là gỗ thị.
Để có cơ sở khoa học đưa ra các thông số về nhiệt độ, độ ẩm bảo quản mộc bản , xử lý các vấn đề cong vênh, nứt, mối mọt…và giúp cán bộ làm công tác bảo quản hiểu rõ được bản chất vật liệu và các nguyên nhân gây ra sự hư hỏng trong quá trình bảo quản, Nhóm đề tài đã tiến hành nghiên cứu phân tích các đặc trưng cơ lý hoá của mẫu gỗ làm mộc bản, kết quả cho thấy gỗ thị là một vật liệu hữu cơ mà thành phần hóa học chủ yếu gồm xenlulô, hemixenlulô và lignin. Chúng đều là những chất có khả năng hút ẩm và thoát ẩm. Lignin hút ẩm kém nhất tiếp đến là xenlulô và lớn nhất là hemixenlulô. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy gỗ làm mộc bản có tỉ lệ co rút thể tích 12,1%, (thuộc nhóm gỗ có tỉ lệ co rút trung bình), trong đó tỉ lệ co rút chiều tiếp tuyến là 7,9%, lớn hơn nhiều so với chiều xuyên tâm 3,2%. Điều này lý giải hiện tượng cong, vênh, nứt của mộc bản là do độ ẩm thay đổi nhanh và đột ngột làm phá vỡ các cấu trúc gỗ. Mặt khác, hiện tượng cong, vênh, nứt của các tấm mộc bản không đều nhau liên quan đến vị trí tấm gỗ được xẻ làm mộc bản: ví dụ những tấm xẻ ở vị trí xuyên tâm độ co rút của nó sẽ ít bị ảnh hưởng hơn so với những tấm gỗ được xẻ ở vị trí tiếp tuyến và giáp tiếp tuyến. Hoặc là trong trường hợp các tấm được khắc in một mặt do thấm mực sẽ ít dãn nở và co rút hơn so với mặt không được khắc in. Điều này còn được chứng minh ở phần nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường đến sự co rút và dãn nở của mẫu gỗ làm mộc bản ở 10 cấp độ ẩm không khí khác nhau.
Ngoài ra, các tính chất cơ học của gỗ như thể tích gỗ, cường độ nén, cường độ uốn và độ cứng tĩnh là những thông số thích hợp nhất để phát hiện và đánh giá mức độ nấm mục hại gỗ. Chúng ta điều biết, thành phần hóa học của gỗ có ảnh hưởng lớn đến tính chất cơ học và vật lí của loại vật liệu này. Hàm lượng và sự phân bố của cellulose là nhân tố chính tạo cho gỗ có cường độ kéo dọc thớ cao. Hemi-cellulose và lignin kết hợp với cellulose tạo cho gỗ có cường độ nén dọc thớ và độ dẻo dai cao. Nếu loại bỏ phần lớn lignin và hemi-cellulose thì cường độ của gỗ giảm nhiều trong điều kiện ướt. Các loài gỗ khác nhau có hàm lượng các thành phần hóa học khác nhau, điều kiện sinh trưởng và vị trí khác nhau trên thân cây cũng có ảnh hưởng đến hàm lượng các thành phần hóa học. Silic là thành phần chính trong tro; silic hiện là vấn đề lớn cho quá trình chế biến gỗ. Hàm lượng silic cao có ảnh hưởng xấu đến quá trình cắt gọt và khả năng dán dính nhưng lại có tác dụng tốt trong việc hạn chế sinh vật hại gỗ.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu về tính chất cơ lý hoá của mộc bản đã giúp nhóm nghiên cứu lý giải được nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cong, vênh và nứt với số lượng lớn của tài liệu mộc bản tại kho của Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV. Mặt khác căn cứ vào kết quả nghiên cứu trên sẽ là cơ sở cho các nhà nghiên cứu đưa ra giải pháp về điều kiện nhiệt độ và độ ẩm để bảo quản an toàn và khắc phục các loại mộc bản bị hư hỏng do nấm, mối, mọt và là cơ sở cho những cán bộ làm công tác bảo quản mộc bản nắm được tính chất của gỗ, khả năng chống chịu của gỗ dưới tác dụng của các lực và khả năng chịu mài mòn và từ đó có những nghiên cứu về quá trình vận chuyển, xắp xếp và tiếp xúc với mộc bản một cách hợp lý.
Nhóm đề tài cũng đã đưa ra được bảng quan hệ nhiệt độ, độ ẩm môi trường và độ ẩm gỗ được áp dụng cho tất cả các loại gỗ. Người làm công tác bảo quản vật liệu gỗ có thể căn cứ vào bảng này để duy trì nhiệt độ, độ ẩm môi trường theo như các thông số đã đưa ra trong bảng. Các thông số nếu đảm bảo theo đúng yêu cầu trong bảng thì các hiện tượng cong, nứt, vênh sẽ không xẩy ra trong quá trình bảo quản loại hình gỗ nói chung và bảo quản mộc bản nói riêng. Ngoài ra cũng căn cứ vào bảng này người làm công tác bảo quản gỗ cũng có thể biết được nếu độ ẩm của gỗ lớn hơn 20% thì nấm mốc mới phát triển được, do vậy chỉ cần duy trì độ ẩm của gỗ nhỏ hơn 20% vì ở điều kiện này nấm mốc không phát triển.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu các tính chất hóa lý của mộc bản, kết quả đo kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm môi trường và độ ẩm của gỗ tại kho bảo quản Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV và điều kiện khí hậu của Đà Lạt trong năm nhóm đề tài đã đưa ra đề xuất giải pháp bảo quản mộc bản theo điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, để bảo quản mộc bản trong điều kiện tự nhiên được tốt, nhóm đề tài đề nghị Trung tâm IV cần theo dõi hết sức chặt chẽ nhiệt độ và độ ẩm để đóng, mở cửa khi thông thoáng kho một cách hợp lý tuyệt đối tránh sự thay đổi đột ngột các thông số này. Mặt khác, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV cần phải tiến hành nghiên cứu phương pháp thông thoáng, cách sắp xếp mộc bản để đảm bảo sự tiếp xúc đồng đều với môi trường đối với tất cả các bề mặt mộc bản.
Do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV đã xây kho hiện đại có máy điều hòa trung tâm, do vậy Trung tâm IV có thể thiết lập điều kiện bảo quản lý tưởng. Tuy nhiên, nhóm đề tài cũng khuyến cáo Trung tâm IV nếu muốn thiết lập điều kiện bảo quản lý tưởng thì ngoài việc nghiên cứu chế độ chuyển mộc bản đang từ điều kiện tự nhiên sang chế độ lý tưởng để tránh hư hỏng mộc bản như đã xẩy ra; nghiên cứu phương pháp duy trì ổn định môi trường bảo quản và cách thức xử lý khi gặp sự cố thì vấn đề tài chính để duy trì chế độ bảo quản 24/24 trong điều kiện lý tưởng là cần phải quan tâm nếu không mộc bản lại tiếp tục nứt, cong, vênh...
Để tối ưu hóa công tác bảo quản mộc bản trong tương lai, nhóm đề tài cũng xin kiến nghị được tạo điều kiện tiếp tục nghiên cứu các nội dung sau:
1. Nghiên cứu chế độ chuyển môi trường từ điều kiện tự nhiên lên điều kiện lý tưởng (nếu trung tâm IV lựa chọn giải pháp bảo quản theo điều kiện lý tưởng)
2. Nghiên cứu về chế độ thông thoáng hợp lý theo các mùa, cách sắp xếp mộc bản trên giá, điều kiện ánh sáng… để đảm bảo môi trường tốt nhất trong trường hợp bảo quản tự nhiên.
3. Nghiên cứu xử lý khắc phục các khuyết tật hiện có của mộc bản: cong, vênh, nứt bằng phương pháp vật lý và hoá học
4. Nghiên cứu phục chế các mộc bản bị biến màu bằng biện pháp xử lý hoá học.
5. Nghiên cứu phục chế các mộc bản bị hư hỏng do vi sinh vật: mục trắng, mục nâu, mọt… bằng biện pháp biến tính gỗ.
Thành viên đề tài:
Từ khóa: