Nghiên cứu xã hội hoá dịch vụ công tại thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm: Trần Văn Khương

Năm đăng ký: 2001

Năm nghiệm thu: 2002

Tóm tắt:

Nghiên cứu xã hội hoá dịch vụ công tại thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm đề tài:           Trần Văn Khương

Năm đăng ký:       2001

Năm nghiệm thu: 2002

Xếp loại:               Tốt

Mục tiêu của đề tài:

Tổng kết tình hình xã hội hoá dịch vụ công, đặc biệt tập trung vào các lĩnh vực thuộc hạ tầng xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Đưa ra một số mô hình mang tính chất đặc trưng và điển hình về các hình thức xã hội hoá. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh xã hội hoá dịch vụ công ở những lĩnh vực trên.

Kết cấu của đề tài: gồm 3 phần

Phần 1: Những vấn đề chung về xã hội hoá dịch vụ công.

Phần  2: Tổng kết xã hội hoá dịch vụ công hạ tầng xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh.

Phần 3: Các giải pháp và kiến nghị.

Những nội dung chính của đề tài:

Phần 1: “Những vấn đề chung về xã hội hoá dịch vụ công”, đề tài đã xác định rõ chức năng của nhà nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, đó là sự can thiệp đúng mức và cần thiết của nhà nước để phát huy mặt mạnh cũng như việc khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường; nhà nước cần tập trung vào những công việc chính thuộc chức năng của mình, nhất là đảm bảo sự ổn định của những lĩnh vực quản lý vĩ mô, nên từng bước loại bỏ dần những việc không cần thiết mà lâu nay nhà nước vẫn ôm đồm và làm kém hiệu quả, phải huy động được sự tham gia của toàn xã hội, đó cũng chính là tư tưởng về xã hội dân sự tự quản mà Mác đã đề cập. Nhómnghiên cứu cũng đã tiếp cận đến các khái niệm cơ bản như: “khu vực công”; “dịch vụ công”; “xã hội hoá” một cách khoa học và có logic.

Đề tài đã đề cập rất cụ thể đến cơ sở pháp lý của việc thực hiện xã hội hoá ở nước ta. Đó là nội dung và phương hướng xã hội hoá (theo Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ); về phạm vi xã hội hoá (Theo Nghị định 73/CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ): các lĩnh vực xã hội hoá như giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao. Đối tượng tham gia rộng rãi các dịch vụ công lập, các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá nhân và gia đình, các nhà đầu tư nước ngoài...; các hình thức hoạt động của các đơn vị ngoài công lập; các chính sách khuyến khích và ưu đãi; cơ chế tài chính...

Phần 2:  “Tổng kết xã hội hoá dịch vụ công hạ tầng xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh”, đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng xã hội hoá dịch vụ công tại thành phố Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực cụ thể như: giáo dục - đào tạo; y tế; văn hoá - thông tin; thể dục thể thao. Đề tài đi sâu phân tích tổ chức và hoạt động của các cơ sở ngoài công lập trong các lĩnh vực nói trên. Đặc biệt, đề cập rất cụ thể đến vấn đề xã hội hoá đối với lĩnh vực giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh trong 4 năm trở lại đây. Cho đến thời điểm cuối học kỳ năm học 2001- 2002, tỷ lệ các trường ngoài công lập là: giáo dục mầm non chiếm 25%; tiểu học 5,5%; trung học cơ sở là 26% và trung học phổ thông là 42%, tỉ lệ này cao hơn so với cả nước. Bên cạnh những thành công đã đạt được, đề tài đã chỉ rõ những mặt còn tồn tại hiện nay như: nhận thức của xã hội về xã hội hoá giáo dục chưa đầy đủ hoặc còn lệch lạc; việc phân cấp, phân công hợp tác giữa các tổ chức còn chưa rõ ràng; các cơ chế chính sách nhằm xã hội hoá giáo dục còn chậm, chưa theo kịp với đòi hỏi của thực tiễn; ngành giáo dục- đào tạo  chưa có sự quan tâm đúng mức cũng như chưa có biện pháp quản lý một cách hiệu quả đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập...

Đề tài đã đưa ra một số mô hình đặc trưng về xã hội hoá dịch vụ công tại thành phố Hồ Chí Minh và được xem là thành công như: Trường Đại học Dân lập Ngoại ngữ- Tin học; Trường Kỹ thuật tin học Sài Gòn (mô hình doanh nghiệp kinh doanh đào tạo); Trường Đại học Công  nghệ dân lập Tôn Đức Thắng (loại hình trường có Hội đồng quản trị nhưng không có cổ đông); Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (mô hình thí điểm cơ chế tự chủ tài chính)...

Phần giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với việc xã hội hoá dịch vụ công, đề tài đã nêu lên những hạn chế trong các văn bản quản lý nhà nước, đó là: vấn đề nhận thức về xã hội hoá các dịch vụ công chưa thống nhất; trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo: thiếu các quy định về tổ chức và hoạt động của các loại hình trường như bán công, dân lập, tư thục..., chưa có sự phân cấp mạnh cho địa phương để thúc đẩy quá trình xã hội hoá...; trong lĩnh vực y tế: Pháp lệnh Hành nghề Y dược tư nhân đã trở nên lỗi thời, gây cản ngại trong quá trình thực hiện xã hội hoá... từ đó, đề tài kiến nghị một số giải pháp cụ thể trên từng lĩnh vực như: đổi mới cơ chế quản lý đối với các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp công lập; với trường đại học ngoài công lập, giáo dục phổ thông ngoài công lập; về lĩnh vực y tế cần có pháp lệnh chung cho y tế ngoài công lập; về văn hoá - thông tin cần phải có những tiêu chí, những chuẩn mực cho từng loại hình văn hoá; về thể dục - thể thao phát triển mô hình doanh nghiệp dưới hình thức câu lạc bộ; về lĩnh vực nghiên cứu khoa học - công nghệ cần phải tách hoạt động quản lý hành chính nhà nước với hoạt động nghiên cứu khoa học, chấm dứt việc hành chính hoá các hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới cơ chế hoạt động nghiên cứu khoa học.

Thành viên đề tài:

Từ khóa:

Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hồng Minh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Tiêu Thị Minh Hường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thế Huệ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: KS. Phan Đăng Thọ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tiếp cận khung đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN-QA)

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Thanh Hà

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |