Mối quan hệ giữa Nhà nước với các hội trong điều kiện hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.

Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Minh Phương

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Mục tiêu của đề tài
Luận giải cơ sở khoa học về quan hệ giữa Nhà nước với các hội trong điều kiện hội nhập quốc tế, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quan hệ giữa Nhà nước với các hội trong điều kiện hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
2. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa Nhà nước với các hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Chương 2. Cơ sở thực tiễn của mối quan hệ giữa Nhà nước với các hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa Nhà nước với các hội đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
3. Nội dung chính của đề tài
a, Chương 1, đề tài làm rõ cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa Nhà nước với các hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế: 
Làm rõ quan niệm và cách tiếp cận mối quan hệ giữa nhà nước với các hội , theo đó, nhóm tác giả cho rằng thực chất của quan niệm về các mô hình quan hệ giữa nhà nước và XHDS/hội là phản ánh các phương diện khác nhau của mối quan hệ giữa nhà nước và hội: 1) Nhà nước quản lý đối với hội - nhà nước là chủ thể quản lý và hội với tính cách là người dân trong hình thái tổ chức liên kết tự nguyện, tự quản của mình là đối tượng bị quản lý; 2) Nhà nước và hội là đối tác của nhau - nhà nước và hội đều do dân lập nên bằng các cách thức và nhằm mục đích khác nhau, do đó luôn cần đến nhau và hỗ trợ lẫn nhau để nhằm mục đích hoàn thiện tổ chức, hoạt động của nhà nước  cũng như tổ chức hội; 3) Nhà nước phục vụ hội – nhà nước do người dân lập nên để dại diện và phục vụ cho nhân dân; hội là khách hàng mà nhà nước có trách nhiệm phục vụ.
Phân tích các đặc điểm và nội dung mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với hội ở Việt Nam. Đồng thời, đề tài cũng phân tích tác động của hội nhập quốc tế đến mối quan hệ giữa Nhà nước với hội.
b, Chương 2, đề tài khái quát thực trạng tổ chức và hoạt động của hội ở nước ta:  Thực trạng tổ chức hội; hoạt động của hội; Phân tích thực trạng  mối quan hệ giữa Nhà nước và hội, những kết quả đạt được và những hạn chế trong mối quan hệ giữa Nhà nước với các hội ở Việt Nam. Theo đó, nhiều hạn chế được chỉ ra như: Về phía Nhà nước: Nhận thức về vai trò của hội và mối quan hệ giữa Nhà nước và hội còn hạn chế. Nhiều cán bộ, công chức có quan niệm không đúng về hội, nhất là các hội xã hội - nghề nghiệp, NGOs, cho đó là những hội “thứ yếu”, kém quan trọng so với các tổ chức CT-XH và tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, nên Nhà nước không cần thiết phải lập mối quan hệ với họ; Thể chế quản lý nhà nước về hội chưa hoàn thiện, chậm được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung ; Việc thể chế vai trò, chức năng giám sát, phản biện xã hội của các hội đối với cơ quan nhà nước còn thiếu, …Về phía các hội: Các hội, liên hiệp hội có xu hướng hành chính hóa, hình thành hệ thống tổ chức theo bốn cấp hành chính nhà nước; nội dung và phong cách hoạt động của đội ngũ cán bộ hội về cơ bản không khác với cán bộ, công chức nhà nước; Việc thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, thành viên vẫn còn hạn chế; Nội dung và phương thức hoạt động của một số hội, liên hiệp hội còn nghèo nàn, lúng túng, có biểu hiện xơ cứng; Đội ngũ cán bộ hoạt động trong các hội, liên hiệp hội vừa thiếu, vừa yếu; Một số hội không tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích của mình, dẫn đến tình trạng chồng lấn nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước;  Nhiều cấp hội chưa thật sự là mái nhà chung của hội viên, chưa tạo được sự gắn kết giữa cấp hội với hội viên, giữa hội viên với nhau. …; Việc liên kết giữa các hiệp hội với các tổ chức khác vẫn còn yếu, nhất là với các tổ chức khoa học, công nghệ, trường đại học, viện nghiên cứu; …
Đồng thời, đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và hội ở một số nước và rút ra một số giá trị tham khảo cho Việt Nam.
c, Chương 3,  trên cơ sở các quan điểm cơ bản, đề tài đề xuất các giải pháp, bao gồm: Nhóm giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tổ chức hội, bao gồm: Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về hội và vai trò của Nhà nước với hội; Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và hội; Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện;  Nhóm giải pháp về đảm bảo cho hội tham gia và giám sát công cuộc cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; Nhóm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hội; Nhóm giải pháp về tạo điều kiện bảo đảm các nguồn lực.
Đồng thời, đề xuất, kiến nghị liên quan đến nội dung Dự thảo Luật về Hội, như: Dự thảo luật nên mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đến các chủ thế là cá nhân và tổ chức nước ngoài;  Dự thảo nên quy định rõ về việc xác định quốc tịch của hội có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân; Dự thảo không nên quy định phạm vi hoạt động của hội theo ngành nghề, lĩnh vực quản lý nhà nước như tại Khoản 3 Điều 10 của Dự thảo; Dự thảo nên loại bỏ những quy định gây cản trợ, ảnh hưởng đến quyền lập hội của người dân; Dự thảo luật về hội nên quy định theo mô hình đăng ký thành lập hơn là mô hình xin phép thủ tục đăng ký thành lập…
 

Thành viên đề tài:

Từ khóa:

Giải pháp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Quách Thị Quế

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đề xuất giải pháp phát triển đào tạo trực tuyến trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thanh Tùng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý văn bằng số trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Luyến

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Xây dựng khung năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở địa phương đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Hải Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đổi mới hoạt động truyền thông trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS Cao Văn Sâm

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Vân

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm tình trạng bạo lực với trẻ em ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Vũ Thị Kim Hoa

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu xây dựng chuẩn mô hình “phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng”

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Nga

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2017

Thực trạng và giải pháp tăng cường năng lực các tổ chức pháp chế ngành lao động, thương binh và xã hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu năng lực quản trị nhà nước về giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Đinh Xuân Thành

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |