Thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở - Những nội dung cơ bản

1. Đặc điểm của chính quyền cơ sở Hệ thống 4 cấp của quản lý hành chính nhà nước của nước ta hiện nay gồm: Trung ương - tỉnh, thành phố - quận, huyện và xã. Bốn cấp quản lý này được tổ chức theo một hệ thống dọc. Từ trên xuống sẽ là trung ương - địa phương và cơ sở. Nếu nhìn dưới lên sẽ là cơ sở - địa phương và toàn quốc. Đó chính là tác động hai chiều làm nổi bật vai trò đặc biệt quan trọng của cơ sở. Nói đến chính quyền nhà nước ở cơ sở là nói đến chính quyền cấp xã. Xã là một khái niệm hành chính ở cơ sở, ổn định và cố định ở nông thôn.

Những đặc điểm và giá trị cơ bản của văn hóa công vụ

Công vụ là phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, gắn với quyền lực nhà nước, là hoạt động của cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ được giao. Trong các tài liệu nghiên cứu về công vụ, người ta xác định “công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội”. Công vụ thường gắn liền với văn hóa công vụ, là đề cập đến những giá trị cơ bản của hoạt động công vụ, của người thực thi công vụ, của một quốc gia, một khu vực. Các quốc gia tiến bộ đều mong muốn có được một nền công vụ chuyên nghiệp, trong sạch, dân chủ, khách quan đảm bảo bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm phục vụ người dân ngày một tốt hơn.

Kinh nghiệm của một số quốc gia trên Thế giới về thu hút và trọng dụng người có tài năng cho nền công vụ

          Việc phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng người có tài năng có vị trí đặc biệt quan trọng và trở thành chiến lược của nhiều nước trên thế giới. Mỗi nước có những cách tiếp cận khác nhau về thu hút, trọng dụng người có tài năng, nhưng mục đích cuối cùng vẫn là làm thế nào để có được một đội ngũ những người có năng lực thực sự, có đạo đức nghề nghiệp vào làm việc trong các cơ quan của chính quyền. Trong phạm vi bài viết này tác giả giới thiệu kinh nghiệm của 6 nước có nền kinh tế khá phát triển, với nền hành chính hiện đại, đó là: Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và những kinh nghiệm liên quan mà các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) đang sử dụng để thu hút và trọng dụng người có tài năng trong nền công vụ. Trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Administrative Reforms under New Public Management Doctrine in Japan and Some ASEAN Countries

          1. Background At the end of the twentieth century, administrative reforms became a popular trend not only in developed countries but also in developing countries. In Western democracies, the main theme, which was in vogue in the 1980s, of administrative reforms was "small government, big society". In the decade of 90s, ideological impetus for reform was slightly changed with the slogan "reinventing government" (Osborne and Gaebler). Not just giving a strong hit to bureaucracy, leaders who advocate the "neo-liberalism" (new liberal) supported the government reforms in the direction of "works better and costs less". The leaders of the world have welcomed a new management tool from the private sector to make government more accountable for theirperformance results. In some countries such as the United Kingdom, New Zealand and Australia, such radical reforms as privatization, market-testing, contracting - out on the basis of theories of public choice and semi-market had been implemented. Consequently, all of the efforts were under the cover of the new theory entitled New Public Management".

Một số kinh nghiệm trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính

Quan điểm cải cách hành chính (CCHC) ở nước ta, mà xuất phát điểm là cải cách thủ tục hành chính (TTHC) được đề ra lần đầu tiên tại Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước TTHC trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức. Khi đó, cải cách nền hành chính nhà nước với tư cách là một hệ thống, đồng bộ đúng với ý nghĩa và tầm quan trọng của nó thực sự được quan tâm và trở thành chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. 

Cải cách hành chính theo lý thuyết quản lý công mới ở Nhật Bản và một số nước ASEAN

          1. Đặt vấn đề: Vào những năm cuối của thế kỷ XX, cải cách hành chính trở thành một xu thế phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển. Ở các nước dân chủ phương Tây, chủ đề cải cách hành chính thịnh hành trong những năm 1980 là “Chính phủ nhỏ, xã hội lớn”. Vào thập niên những năm 1990, tư tưởng làm động lực cho cải cách được thay đổi chút ít với khẩu hiệu “sáng tạo lại chính phủ” (Osborne và Gaebler). Không chỉ đánh mạnh vào chế độ quan liêu, các nhà lãnh đạo theo “chủ nghĩa tự do mới” (new liberal) đã ủng hộ việc cải cách chính phủ theo hướng “các công việc sẽ được thực hiện tốt hơn nhưng với chi phí thấp hơn”. Các nhà lãnh đạo trên thế giới đã chào đón một công cụ quản lý mới từ khu vực tư nhân nhằm làm cho Chính phủ có trách nhiệm hơn với kết quả hoạt động. Ở một vài nước như Vương Quốc Anh, Newzeland và Úc, các cải cách mang tính cấp tiến như tư nhân hoá, thử nghiệm thị trường, hợp đồng bên ngoài (contracting - out) trên cơ sở lý thuyết “lựa chọn công cộng” và “bán thị trường” (quasi - market) đã được triển khai. Kết quả là tất cả những nỗ lực đó được bao hàm dưới cái tên Quản lý công mới - “New Public Management”.

Đánh giá hoạt động khu vực công nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ - Một cách nhìn từ kinh nghiệm triển khai đo lường hiệu quả hoạt động cơ chế một cửa

Trong hơn 2 thập kỷ trở lại đây, các nước trên thế giới đều có những nỗ lực cải cách để nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công. Câu hỏi “Cải thiện chất lượng dịch vụ công là gì” cũng hiểu chính xác thế nào là “nâng cao” vẫn còn là những tranh cãi thảo luận của các nhà khoa học hành chính. Thực tế cho thấy có nhiều quan điểm, nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của tổ chức và những nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ trực tiếp giữa hiệu quả hoạt động của tổ chức, chất lượng nền công vụ đối với vấn đề cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Một số giải pháp tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các trường đại học ở Việt Nam

Kinh tế nước ta đang tiếp tục quá trình chuyển sang nền “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”, các cải cách kinh tế đang diễn ra một cách sâu rộng và triệt để hơn nhằm tháo gỡ những cản trở về hành chính còn lại. Điều này cũng tạo ra môi trường thuận lợi, tác động và tăng sức ép đối với cải cách quản lý giáo dục đại học trên các mặt chủ yếu: khoa học, tài chính, tổ chức và nhân sự.

Kinh nghiệm đánh giá công chức của một số quốc gia trên thế giới

Đánh giá công chức là một khâu quan trọng trong công tác quản lý công chức. Đánh giá công chức là chỉ công việc mà các cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra, khảo sát, thẩm định theo định kỳ hoặc không theo định kỳ về hiệu quả, thành tích công tác và tố chất chính trị, kiến thức chuyên môn, năng lực làm việc… của công chức làm cơ sở cho việc khen thưởng và kỉ luật, cất nhắc và điều chỉnh một cách hợp lý, công bằng đối với công chức. Có thể nói, việc đánh giá công chức có tác dụng trên nhiều phương diện đối với công tác quản lý công chức. Ví dụ như Cơ quan Công vụ (Public Service Department- PSD) của Malaysia yêu cầu tất cả các bộ, ngành cũng như các cơ quan chính quyền địa phương phải tổ chức đánh giá tâm lý khi phỏng vấn tuyển chọn nhân viên. Đồng thời, các công chức đang tại chức cũng sẽ phải qua phần đánh giá tâm lý và tư vấn để giúp họ cải thiện khả năng phục vụ. Theo Tổng giám đốc PSD Ismail Adam đây là một biện pháp để phát triển nhân lực. Đánh giá tâm lý sẽ hỗ trợ việc tuyển dụng, bố trí nhân sự do có thể giúp đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ căn cứ vào tính cách của mỗi cá nhân. Mặt khác, đánh giá tâm lý còn có thể hỗ trợ các “đầy tớ của nhân dân” điều chỉnh cảm xúc, tính cách, hành vi trong quá trình tác nghiệp. 

Một số quan điểm và giải pháp xây dựng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức trong bối cảnh hiện nay

Trước khi có Luật Viên chức năm 2010, Hệ thống chức danh, tiêu chuẩn được xây dựng và ban hành đã lên đến 186 ngạch bao gồm cả ngạch công chức và ngạch viên chức thuộc 19 ngành, nghề đã góp phần không nhỏ vào quá trình xây dựng, quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức. 

Một số nét mới về thể chế chính trị và bộ máy nhà nước một số quốc gia trên Thế giới

Thể chế chính trị là loại hình chế độ, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước mà mỗi quốc gia lựa chọn để quyết định xây dựng những quy định, luật lệ cho một chế độ xã hội mà chính phủ nước đó sử dụng để quản lý xã hội. Trên thế giới có nhiều dạng thể chế chính trị khác nhau và Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất của mỗi nước quy định về loại hình chế độ hay thể chế chính trị của nước đó. Từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, có không ít quốc gia trên thế giới ghi nhận những biến động ở các mức độ khác nhau về một hoặc nhiều khía cạnh trong thể chế chính trị và bộ máy nhà nước. Để hệ thống hóa các đặc trưng và nghiên cứu tìm ra những điểm mới trong thể chế chính trị và bộ máy nhà nước của một số quốc gia, tác giả đã tiến hành rà soát một số nội dung chính trong thể chế chính trị và bộ máy nhà nước, mô tả những điểm mới và sơ lược so sánh, đối chiếu để nhóm lại các thay đổi theo từng chủ đề để khắc họa ban đầu về các xu hướng thay đổi và những đặc trưng cố hữu của các nhóm quốc gia, từ đó rút ra một số nhận xét trong bối cảnh nước ta đang phát triển và hội nhập hiện nay. 

Phát triển nhân lực công – Tư duy và hành động

1. Nhận thức về phát triển nhân lực công Trong những năm qua chúng ta đã ban hành những chính sách về “Nền kinh tế tri thức” (Knowledge Economy), “Chính phủ điện tử” (E-Government). Cùng với việc ban hành các chính sách là việc thực hiện các nghiên cứu về “Nền kinh tế thông tin” (Information Economy), “Chính phủ thông minh” (Smart Government). “Nền kinh tế tri thức”, “Nền kinh tế thông tin”, “Chính phủ điện tử”, “Chính phủ thông minh” là các mức độ phát triển khác nhau mà sự thành công hay không thành công phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nhân lực. Như vậy đủ thấy vai trò to lớn, tầm quan trọng bậc nhất của nhân lực đối với việc tạo ra tiến bộ trên các mặt khác nhau của đời sống xã hội và của nhà nước. Với vai trò và ý nghĩa quan trọng như vậy phát triển nhân lực luôn được Chính phủ các nước quan tâm với những triết lý, chủ trương, chương trình khác nhau. Ví dụ: Chính phủ Nhật Bản phát triển nhân lực theo triết lý “con người Nhật cộng với khoa học kỹ thuật phương Tây”; Singapore chủ trương “phát triển nhân lực chất lượng cao” và “thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”; trong khi đó trọng tâm phát triển nhân lực của Hoa Kỳ đặt vào hai chương trình “phát triển giáo dục - đào tạo” và “thu hút nhân tài”. Chúng ta có “Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020” đã được phê duyệt theo Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

Dưới góc độ quản lý, khi nói về vai trò của người đứng đầu, ta cần phải đề cập đến trách nhiệm của họ trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức thông qua sử dụng một cách có hiệu lực và hiệu quả các nguồn lực của tổ chức bao gồm: nguồn nhân lực, tài chính, vật chất và thông tin, trong đó, nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định thành bại của tổ chức. Tại đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL), với đặc thù hoạt động chính là cung cấp dịch vụ công, được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, nguồn thu, đề tài, dự án, quản lý nhân lực, việc nhà quản lý – người đứng đầu đơn vị phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm là đòi hỏi bức thiết của thời đại. 

Bảo đảm chất lượng công chức qua kinh nghiệm của nhà nước phong kiến Việt Nam và một số nước trên Thế giới

Những năm gần đây, đội ngũ cán bộ, công chức đã được rèn luyện, thử thách qua quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng. Kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng cao về mọi mặt, góp phần tích cực vào thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn vừa qua. 

Chính sách công – Tiếp cận từ khoa học tổ chức nhà nước

1. Khái niệm và các thuộc tính của chính sách công Chính sách công (public policy) được tiếp cận nghiên cứu từ những giác độ khoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công, cụ thể như:

Kinh nghiệm của một số nước trong xây dựng Hệ thống tiêu chuẩn phân loại nghề nghiệp

Để chuẩn bị cho việc xây dựng các chức danh nghề nghiệp trong các ngành nghề nói chung và tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp của công chức, viên chức nói riêng, việc tham khảo kinh nghiệm phân loại nghề nghiệp quốc tế và của một số quốc gia trên thế giới là điều cần thiết. Đây là những bài học quý giá giúp Việt Nam xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp chi tiết, cụ thể nhưng cũng phù hợp với xu hướng phát triển của quốc tế. Bài viết giới thiệu kinh nghiệm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (thường gọi là Mỹ), Nhật Bản và Đức trong việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn phân loại nghề nghiệp.

Đánh giá và phân loại kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội viên Dự án 600 Phó Chủ tịch xã

Mục tiêu của Dự án thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thuộc 64 huyện nghèo (sau đây gọi tắt là Dự án 600 Phó Chủ tịch xã) là tăng cường nguồn nhân lực có trình độ để giúp cấp ủy, chính quyền tổ chức triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững; qua đó, đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ trẻ bổ sung vào các chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước đến nay đã hoàn thành giai đoạn I của Dự án bảo đảm yêu cầu và tiến độ đề ra. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi về một số kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội viên Dự án trong năm 2013.

Chế độ giao lưu nhân sự giữa Chính phủ và tư nhân ở Nhật Bản và hoạt động luân chuyển cán bộ ở Việt Nam hiện nay

          Cải cách hành chính được xem là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo một chế độ hành chính hiệu lực và phát triển của các quốc gia trên thế giới. Trong công cuộc cải cách bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay, cùng với việc tiến hành cải cách tổ chức và hoạt động của Quốc hội, cải cách tư pháp thì cải cách nền hành chính quốc gia được phát động đầu tiên và trên thực tế đã thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ. 

Những điểm mới và nội dung cơ bản của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992

Ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua bản Hiến pháp 2013. Bản Hiến pháp mới đã đạt được các mục đích, yêu cầu đặt ra là thể chế hóa những đường lối, chính sách lớn của Đảng; ghi nhận những thành tựu của hơn 25 năm đổi mới; xứng tầm một bản Hiến pháp mang tính ổn định, lâu dài. Những sửa đổi, bổ sung trong Hiến pháp mới rất căn bản, sâu sắc, khẳng định con đường chúng ta đi theo là đúng, được nâng lên tầm cao hơn, tạo điều kiện cho bước phát triển mới của đất nước, và bản Hiến pháp mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Sau đây là những điểm mới và nội dung cơ bản của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992:

Đôi nét về Hệ thống công vụ Vương quốc Đan Mạch

Vương quốc Đan Mạch (Kingdom of Denmark - sau đây gọi tắt là Đan Mạch) là một nước quân chủ lập hiến và là một cộng đồng gồm bản thân Đan Mạch ở Bắc Âu và hai quốc gia tự trị cấu thành là Faroe ở Bắc Đại Tây Dương và Greenland ở Bắc Mỹ. Đan Mạch  phía Nam giáp Đức, ba mặt còn lại giáp biển Bắc và biển Baltic. Diện tích: chính quốc: 43.094 km2 ; quần đảo Faroe: 1.399 km2; đảo Greenland: 2.175 km2. Dân số: 5,55 triệu người (7/2010), trong đó 9,9% là người nước ngoài. Thủ đô là Cô-pen-ha-gen (Copenhagen).

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |