Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Năm đăng ký: 2013

Năm nghiệm thu: 2014

Tóm tắt:

         1. Tính cấp thiết

Hiện nay, để thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động, xã hội và người có công, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tham mưu cho Chính phủ công bố nhiều loại chuẩn như: tiền lương tối thiểu, chuẩn nghèo, chuẩn trợ giúp xã hội, chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công, mức sống tối thiểu, mức sống trung bình, cụ thể, đó là:

Về chính sách người có công, Đảng và Nhà nước ta đã xác định tập trung triển khai thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, nâng mức chuẩn trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công phù hợp với lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu.

Về chính sách trợ giúp xã hội, nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước. Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội. Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 3 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên, trong đó trên 50% là người cao tuổi.

Về chính sách tiền lương, tại Bộ luật Lao động đã khẳng định: "Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác.

Chuẩn hộ nghèo được Chính phủ công bố cho từng giai đoạn, phù hợp thu nhập và mức sống của dân cư nói chung và của nhóm hộ nghèo nhất nói riêng, đồng thời đã tính đến các yếu tố thu nhập, chi tiêu thực tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế và trượt giá. Chuẩn nghèo có tác dụng xác định đối tượng thụ hưởng một số chính sách hỗ trợ như cấp thẻ BHYT miễn phí, hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em, hỗ trợ tiền điện sinh hoạt, vay vốn tín dụng ưu đãi…

Nhìn chung, các loại chuẩn nêu trên cơ bản đã đưa ra những phương pháp tính toán riêng, có thể là dựa trên khả năng lao động, điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng của ngân sách nhà nước, tuy nhiên, việc tính toán nhiều loại chuẩn là khá phức tạp mặc dù các chuẩn này đều có điểm chung là chủ yếu dựa trên nhu cầu tối thiểu, mức sống tối thiểu để tính toán. Hiện nay, việc xây dựng các loại chuẩn chưa tham chiếu lẫn nhau và còn có nhiều ý kiến tranh cãi.

Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, họ đều đưa ra một chuẩn cơ bản, từ đó tính toán các loại chuẩn khác và làm căn cứ thực hiện chính sách an sinh xã hội, ví dụ như Brazil quy định bất kỳ người dân nào có mức thu nhập dưới 50% tiền lương tối thiểu thì được hưởng trợ cấp xã hội…

Vì vậy, cần thiết phân tích mối tương quan giữa các loại chuẩn nêu trên để từ đó có thể đề xuất được một chuẩn làm cơ sở trong tính toán các chuẩn khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định được đối tượng, gói hỗ trợ trong chính sách xã hội. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng giữa mối tương quan giữa các loại chuẩn và đề xuất mối tương quan phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo chính sách an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2013-2020.

3. Kết cấu của đề tài

Gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về các loại chuẩn và mối tương quan giữa các loại chuẩn.

Chương 2: Phân tích thực trạng về mối tương quan giữa các loại chuẩn.

Chương 3: Khuyến nghị phương pháp xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1 – Cơ sở lý luận về các loại chuẩn và mối tương quan giữa các loại chuẩn

Hệ thống hóa các khái niệm cơ bản làm nền tảng lý luận cho toàn đề tài. Mức sống tối thiểu được xác định là mức để con người có thể tồn tại, bảo đảm cho con người một thân thể khỏe mạnh và một nhu cầu văn hóa tối thiểu; được đo bằng chi phí tiêu dùng cá nhân bao gồm nhu cầu về lương thực, thực phẩm (LTTP) và nhu cầu phi lương thực, thực phẩm (phi LTTP). Chuẩn nghèo là ranh giới phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo; có thể tiếp cận theo hướng tuyệt đối hoặc tương đối, trong đó chuẩn nghèo khách quan được đồng nhất với mức sống tối thiểu, còn chuẩn nghèo chính sách tùy thuộc vào khả năng ngân sách nhà nước. Tiền lương tối thiểu được quy định nhằm bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất bù đắp sức lao động và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động. Mức chuẩn trợ cấp xã hội xác định mức hỗ trợ cho các nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất trong xã hội.

Chương này cũng tổng quan toàn diện hệ thống các loại chuẩn tại Việt Nam qua các giai đoạn, phân tích các yếu tố tác động đến mối tương quan giữa các chuẩn gồm: thể chế chính sách, các yếu tố kinh tế và thể chế tài chính, các yếu tố về xã hội, các yếu tố về địa lý và hoàn cảnh của đối tượng. Đặc biệt, phương pháp xác định mối tương quan được tiếp cận thông qua phân tích hồi quy, tính hệ số tương quan Pearson và so sánh định lượng giữa các chuẩn.

Kinh nghiệm quốc tế từ Anh, Trung Quốc, Thái Lan và Philippines được phân tích để đúc kết bài học: các nước đều xây dựng một chuẩn nền tảng (phổ biến là mức sống tối thiểu) làm căn cứ tính toán các chuẩn còn lại; mức chuẩn trợ giúp xã hội thường dao động từ 30% đến 60% mức sống tối thiểu tùy theo khả năng ngân sách; tiền lương tối thiểu luôn cao hơn mức sống tối thiểu để bảo đảm tái sản xuất sức lao động.

4.2. Chương 2 – Phân tích thực trạng về mối tương quan giữa các loại chuẩn

Phân tích thực trạng xây dựng và sử dụng các loại chuẩn tại Việt Nam trong giai đoạn 2006–2013. Chuẩn nghèo đã được điều chỉnh nhiều lần: từ 200.000 đồng/người/tháng (nông thôn) và 260.000 đồng/người/tháng (thành thị) giai đoạn 2006–2010, lên 400.000 đồng/người/tháng (nông thôn) và 500.000 đồng/người/tháng (thành thị) giai đoạn 2011–2015. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 30% năm 1992 xuống còn 11,1% năm 2012; tuy nhiên, vẫn còn chênh lệch lớn giữa dân tộc Kinh/Hoa và dân tộc thiểu số (42,2% hộ dân tộc thiểu số vẫn sống dưới chuẩn nghèo năm 2012).

Chuẩn trợ cấp xã hội được điều chỉnh 5 lần từ 24.000 đồng/tháng năm 1994 lên 270.000 đồng/tháng từ năm 2014. Dù vậy, mức chuẩn TGXH vẫn còn rất thấp so với các chuẩn khác: năm 2013 chỉ đạt 15,6% mức tiêu dùng tối thiểu về LTTP và bằng 45% chuẩn nghèo nông thôn. Tiền lương tối thiểu chung được điều chỉnh từ 450.000 đồng/tháng năm 2006 lên 1.150.000 đồng/tháng từ tháng 7/2013; tuy nhiên mức lương tối thiểu trong khu vực nhà nước và doanh nghiệp trong nước chỉ đáp ứng được 65–72% nhu cầu sinh hoạt tối thiểu. Mức sống tối thiểu được tính toán lần đầu tại Việt Nam theo phương pháp chi phí nhu cầu cơ bản (CBN): năm 2010 đạt 615.500 đồng/người/tháng và tăng lên 868.800 đồng/người/tháng vào năm 2013.

Qua phân tích định lượng bằng hệ số tương quan và hồi quy, đề tài chỉ ra các vấn đề nổi bật: (i) Các loại chuẩn chưa tham chiếu lẫn nhau trong quá trình xây dựng, dẫn đến thiếu nhất quán; (ii) Chuẩn TGXH điều chỉnh chậm nhất so với tất cả các chuẩn còn lại, tạo ra khoảng cách ngày càng giãn rộng; (iii) Chuẩn nghèo chính sách còn cách xa chuẩn nghèo khách quan (mức sống tối thiểu), cho thấy nhiều đối tượng thực sự nghèo chưa được tiếp cận chính sách hỗ trợ; (iv) Mức tiền lương tối thiểu chưa thực sự bảo đảm mức sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ.

4.3. Chương 3 – Khuyến nghị phương pháp xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Trong bối cảnh thuận lợi từ chủ trương của Đảng (Nghị quyết 15/NQ-TW ngày 01/6/2012 về chính sách xã hội giai đoạn 2012–2020, mục tiêu bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập cho toàn dân đến năm 2020) và những thách thức từ già hóa dân số, giảm nghèo chậm lại, bất bình đẳng gia tăng, đề tài đề xuất quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc xác định mối tương quan dựa trên nền tảng khoa học và phù hợp điều kiện thực tế Việt Nam.

Về phương pháp tính, đề tài trình bày chi tiết cách tính mức sống tối thiểu theo phương pháp CBN với rổ hàng hóa LTTP đạt 2.100 Kcal/người/ngày (cho dân số chung) và 2.300 Kcal/người/ngày (cho lao động hưởng lương), cập nhật hàng năm theo chỉ số giá CPI; cách xác định chuẩn nghèo khách quan bằng 100% mức sống tối thiểu; và cách tính tiền lương tối thiểu từ dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê. Kết quả tính toán cho thấy mức sống tối thiểu của lao động hưởng lương năm 2010 là 1.205.000 đồng/tháng (chung cả nước) với sự phân hóa theo 4 vùng kinh tế.

Đề tài đề xuất hệ số tương quan giữa các loại chuẩn trong 5 năm tới lấy mức sống tối thiểu làm chuẩn nền (= 1): chuẩn nghèo khách quan = 1 lần; nghèo bậc 1 = 0,51 lần; nghèo bậc 2 = 0,80 lần; chuẩn trợ cấp xã hội dao động 0,3–0,4 lần; tiền lương tối thiểu = 1,32 lần. Đề tài khuyến nghị lộ trình thực hiện cụ thể: thử nghiệm tính MSTT đến 2015, chính thức công bố MSTT từ 2016, áp dụng để xây dựng chuẩn nghèo từ 2016 và chuẩn TGXH từ 2020.

Thành viên đề tài:

ThS. Phạm Thị Bảo Hà (Viện Khoa học Lao động và Xã hội); ThS. Nguyễn Thế Quân (Tổng cục Thống kê); CN. Ngô Trường Thi (Cục Bảo trợ xã hội); ThS. Nguyễn Huyền Lê (Viện Khoa học Lao động và Xã hội); ThS. Hoàng Kiên Trung (Viện Khoa học Lao động và Xã hội); ThS. Nguyễn Thị Thanh Hà (Viện Khoa học Lao động và Xã hội).

Từ khóa: Mức sống tối thiểu Chuẩn nghèo Tiền lương tối thiểu Trợ cấp xã hội An sinh xã hội

Tên file View
CB 2013-07-01.pdf Đăng nhập để xem
Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hồng Minh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Tiêu Thị Minh Hường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thế Huệ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: KS. Phan Đăng Thọ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tiếp cận khung đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN-QA)

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Thanh Hà

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |