Đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Thị Vân
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 27 tháng 12 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2596/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020", với quan điểm coi nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma tuý là một quá trình lâu dài, bao gồm tổng thể các can thiệp, hỗ trợ về y tế, tâm lý xã hội làm thay đổi nhận thức hành vi của người nghiện, giảm tác hại của nghiện ma tuý và giảm tình trạng sử dụng ma tuý trái phép. Đề án cũng nhấn mạnh quan điểm đa dạng hoá các biện pháp và mô hình điều trị nghiện ma tuý, tăng dần tiến tới điều trị tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là chủ yếu, giảm dần điều trị bắt buộc tại trung tâm. Đề án đặt ra mục tiêu nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn dự phòng và điều trị nghiện, phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020, 90% cán bộ tham gia công tác dự phòng và điều trị nghiện ma tuý được đào tạo kiến thức cơ bản về điều trị nghiện, 100% cán bộ y tế công tác tại các cơ sở điều trị nghiện có đầy đủ văn bằng, chứng chỉ theo quy định về điều trị nghiện.
Một trong những nhiệm vụ mà Đề án Đổi mới công tác cai nghiện đặt ra là phát triển các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện nhằm hình thành mạng lưới các cơ sở điều trị nghiện có đủ năng lực, đáp ứng nhu cầu đa dạng về dịch vụ điều trị nghiện, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiện ma tuý tiếp cận và sử dụng dịch vụ. Việc phát triển các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện được thực hiện theo hướng chuyển đổi các trung tâm cai nghiện bắt buộc sang cơ sở điều trị nghiện tự nguyện đối với những trung tâm của các tỉnh, thành phố có dưới 200 người nghiện và những trung tâm thường xuyên có số người cai nghiện dưới 50% công suất thiết kế ở những tỉnh, thành phố có nhiều trung tâm. Dự kiến sẽ có 80 trung tâm thuộc diện cần chuyển đổi, trong đó có 40 trung tâm chuyển đổi hoàn toàn và 40 trung tâm chuyển đổi một phần sang cơ sở điều trị nghiện tự nguyện.
Bên cạnh đó là những thay đổi căn bản về quan điểm đối với nghiện ma tuý và điều trị nghiện ma tuý. Thay vì coi là một "tệ nạn", một sự suy kém về đạo đức của người sử dụng, nghiện ma tuý đã được chính thức xem là một rối loạn hay bệnh của não bộ, có bản chất mãn tính và tái diễn. Đối với việc điều trị nghiện, thay cho quan điểm cai nghiện bằng các biện pháp giáo dục, hành chính đơn thuần kết hợp với "lao động trị liệu", việc điều trị cho người nghiện được xác định phải tổng thể cả về mặt sinh học và tâm lý xã hội, kết hợp các biện pháp y tế, tâm lý, giáo dục, trợ giúp xã hội.
Những thay đổi đó dẫn tới nhu cầu thay đổi về đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác điều trị nghiện ma tuý, đặc biệt trong các cơ sở được chuyển đổi sang mô hình điều trị nghiện ma tuý tự nguyện để đảm bảo các cơ sở này sau khi được hình thành hoặc chuyển đổi có thể vận hành một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, hiện chưa có một nghiên cứu, đánh giá toàn diện đối với nhu cầu đào tạo cho cán bộ các cơ sở cai nghiện ma tuý tự nguyện. Các nghiên cứu đánh giá về nhu cầu đào tạo điều trị nghiện ma tuý ở Việt Nam hiện nay hầu hết đều có hạn chế về tính đại diện của nghiên cứu, hoặc là được thực hiện ở một địa phương hoặc là cho nhóm đối tượng cán bộ không thuộc các cơ sở cai nghiện ma tuý tự nguyện, đặc biệt là tại các trung tâm được chuyển đổi từ mô hình cai nghiện bắt buộc sang cai tự nguyện theo định hướng của Đề án Đổi mới công tác cai nghiện.
Xuất phát từ bối cảnh trên, Đề tài "Đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện" có ý nghĩa rất quan trọng, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp, nhiệm vụ đào tạo, nâng cao năng lực về dự phòng và điều trị nghiện ma túy cho cán bộ làm việc tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy tự nguyện, góp phần thực hiện có hiệu quả Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma tuý tại Việt Nam đến năm 2020.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung
Xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực điều trị nghiện ma túy cho các cán bộ làm việc tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy tự nguyện để thực hiện Quyết định 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy tại Việt Nam đến năm 2020.
b. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng năng lực điều trị nghiện ma túy của các cán bộ làm việc tại các cơ sở điều trị ma túy tự nguyện;
- Xác định khoảng trống về năng lực và đánh giá nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực về điều trị nghiện ma tuý cho cán bộ làm việc tại các cơ sở điều trị ma túy tự nguyện;
- Đề xuất một số giải pháp, nhiệm vụ đào tạo, nâng cao năng lực điều trị nghiện ma túy cho cán bộ làm việc tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy tự nguyện.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có kết cấu gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung;
Chương II: Thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện;
Chương III: Đề xuất, khuyến nghị.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Những vấn đề lý luận chung
Chương I trình bày hệ thống các vấn đề lý luận về điều trị nghiện ma tuý tự nguyện, bắt đầu từ các khái niệm về ma tuý, phân loại các chất ma tuý và định nghĩa nghiện ma tuý theo quan điểm khoa học hiện nay. Theo đó, nghiện ma tuý được xác định là căn bệnh của não bộ, có bản chất mãn tính và tái diễn, chịu sự tác động không chỉ của chất gây nghiện, các yếu tố sinh học mà còn cả các yếu tố môi trường, xã hội, tác động tới nhận thức và hành vi của người sử dụng; do đó việc điều trị nghiện ma tuý phải bao gồm tổng hợp các giải pháp về dược lý, tâm lý và xã hội. Chương I cũng làm rõ khái niệm cai nghiện ma tuý và các hình thức cai nghiện hiện nay tại Việt Nam, giới thiệu mô hình cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện với các thông tin về chức năng, nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cụ thể, cơ cấu tổ chức và tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động.
Bên cạnh những vấn đề lý luận về điều trị nghiện ma tuý tự nguyện, chương này còn hệ thống hoá cơ sở lý luận về đánh giá nhu cầu đào tạo, bao gồm các khái niệm về đào tạo, các yếu tố của quy trình đào tạo, các cấp độ đánh giá nhu cầu đào tạo (phân tích nhu cầu của tổ chức và phân tích nhu cầu của cá nhân) và ý nghĩa của việc đánh giá nhu cầu đào tạo đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nói chung.
Trên cơ sở đó, Chương I giới thiệu các khung lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu — Mô hình năng lực KSA, Lý thuyết phân tích khoảng cách và Lý thuyết phản hồi 360 độ — và xây dựng khung năng lực gồm 29 nội dung thuộc 10 nhóm kiến thức, kỹ năng cần được trang bị cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện, dựa trên việc tham khảo các chương trình đào tạo trong nước và quốc tế. Khung năng lực này là cơ sở để đề tài áp dụng Lý thuyết khoảng cách nhằm xác định khoảng trống năng lực qua khảo sát, đồng thời áp dụng Lý thuyết phản hồi 360 độ để khảo sát đồng thời ba nhóm cán bộ (tư vấn, y tế, quản lý - hành chính), cán bộ quản lý tại các Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội và người đang cai nghiện tại các cơ sở điều trị — những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ năng lực của cán bộ điều trị.
4.2. Chương II: Thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện
Chương II phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện. Về quy mô hệ thống, tính đến tháng 12/2016 cả nước có 110 cơ sở cai nghiện ma tuý công lập, trong đó 99 cơ sở có chức năng cai nghiện tự nguyện; phần lớn được chuyển đổi từ mô hình cai nghiện bắt buộc nên cơ cấu cán bộ còn nhiều bất cập. Trong hơn 7.000 cán bộ công tác tại các cơ sở cai nghiện, riêng bộ phận bảo vệ và hành chính đã chiếm hơn 50% tổng số cán bộ (bảo vệ 26,3%, quản lý - hành chính 25,3%), trong khi hai bộ phận chuyên môn trực tiếp điều trị mỗi bộ phận chỉ chiếm chưa tới 15%. Cán bộ có thâm niên công tác khá cao (xấp xỉ 10 năm) và hơn 50% trên 35 tuổi, được coi là thách thức lớn cho việc đào tạo lại theo quan điểm và phương pháp điều trị mới, do sức ì trong nhận thức và tâm lý ngại thay đổi. Về chuyên ngành đào tạo, cán bộ có chuyên ngành y dược chỉ chiếm chưa tới 15%, chuyên ngành khoa học xã hội chiếm 22% tổng số cán bộ; tuy vậy, cán bộ được các học viên đang cai nghiện đánh giá khá tích cực về thái độ, ứng xử.
Về công tác đào tạo, bồi dưỡng, Chương II phân tích theo hai giai đoạn: trước và sau khi Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma tuý được ban hành. Trước Đề án, các chương trình đào tạo chủ yếu là phổ biến văn bản, pháp luật, thời lượng ngắn (1-2 ngày), nội dung sơ sài, hình thức thuyết trình một chiều; các khoá tập huấn theo dự án nước ngoài tài trợ được đánh giá cao về chất lượng nhưng thiếu tính liên kết, kế thừa giữa các đơn vị tổ chức, nhiều nội dung trùng lặp, chưa có tiêu chí đánh giá chất lượng hay gắn với vị trí việc làm. Sau khi Đề án được ban hành, các khoá tập huấn dù chưa nhiều nhưng thiết thực hơn, được xây dựng theo nhu cầu thực tế và giúp cán bộ thay đổi cơ bản quan điểm, cách thức tổ chức điều trị, song vẫn còn hạn chế về chiều sâu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu.
Trên cơ sở khung năng lực xây dựng ở Chương I, Chương II khảo sát và chỉ ra rằng ngoài kiến thức chung về ma tuý và một phần kiến thức tư vấn điều trị, tỷ lệ cán bộ ở cả ba nhóm (tư vấn, y tế, quản lý - hành chính) đã được tập huấn các nội dung kiến thức, kỹ năng cần thiết khác đều rất thấp, dù họ đánh giá cao mức độ quan trọng của các nội dung này và cho biết còn nhiều khó khăn, thiếu tự tin khi áp dụng vào công việc — từ đó cho thấy nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo khung năng lực là rất lớn. Chương này cũng tổng hợp các đề xuất của cán bộ về thời gian, thời lượng, hình thức tổ chức khoá học và những rào cản khi tham gia đào tạo hoặc áp dụng kiến thức vào thực tế.
4.3. Chương III: Đề xuất, khuyến nghị
Trên cơ sở lý luận ở Chương I và thực trạng, nhu cầu đào tạo được phân tích ở Chương II, Chương III trình bày các quan điểm, định hướng của Chính phủ đối với công tác cai nghiện ma tuý và phát triển hệ thống cơ sở điều trị nghiện tự nguyện theo Quyết định 2596/QĐ-TTg, chỉ ra những cơ hội và thách thức đặt ra cho công tác điều trị nghiện nói chung và cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng. Trên cơ sở đó, chương này đề xuất định hướng đào tạo theo phương châm "thực học - thực nghiệp", gắn đào tạo với vị trí việc làm của người học, nội dung đào tạo phải có căn cứ khoa học, thực chứng và được xây dựng theo 29 nội dung thuộc 10 nhóm kiến thức, kỹ năng đã xác lập ở khung năng lực; các khoá đào tạo cần tổ chức linh hoạt về thời gian, địa điểm, hình thức, áp dụng phương pháp cùng tham gia, khuyến khích học viên chủ động; cần có cơ chế giám sát, hỗ trợ chuyên môn sau đào tạo, mạng lưới kết nối giảng viên - học viên, cơ chế khen thưởng khi áp dụng kiến thức mới, và đặc biệt cần gắn kết quả học tập, cấp chứng nhận/chứng chỉ với việc phân công công tác, xếp ngạch, nâng hạng viên chức.
Đề tài cũng đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện ma túy tự nguyện, bao gồm:
(1) Giải pháp về xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo;
(2) Giải pháp về xây dựng đội ngũ giảng viên nguồn;
(3) Giải pháp về chính sách hỗ trợ cho người đi học;
(4) Giải pháp về xây dựng hệ thống đánh giá tác động của đào tạo;
(5) Giải pháp về đảm bảo nguồn lực triển khai.
Các đề xuất này được đưa ra nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng và triển khai các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, góp phần thực hiện thành công Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma tuý tại Việt Nam đến năm 2020.
Thành viên đề tài:
ThS. Vũ Thị Hải Hoà, Trưởng phòng Tổ chức hành chính, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội, Thư ký đề tài; ThS. Hán Đình Hoè, Phó trưởng khoa Bồi dưỡng chuyên ngành, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội, Thành viên; ThS. Lê Thị Hồng Hạnh, Phó trưởng phòng Quản lý Đào tạo và Nghiên cứu khoa học, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội, Thành viên; ThS. Trần Thị Mai Phương, Trưởng phòng Tài chính – Kế toán, Trường Đào tạo, bồi
Từ khóa:
Nghiện ma tuý điều trị nghiện tự nguyện nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực cán bộ cai nghiện ma tuý
|
Tên file |
View |
|
CB2016-10-15.pdf
|
Đăng nhập để xem
|