Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm tình trạng bạo lực với trẻ em ở Việt Nam

Chủ nhiệm: ThS. Vũ Thị Kim Hoa

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Theo Liên Hợp Quốc định nghĩa bạo lực đối với trẻ em tuân theo Điều 19 của Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em: "Tất cả các hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, chấn thương và xâm hại, bỏ mặc hoặc xao nhãng, ngược đãi hoặc bóc lột, cả lạm dụng tình dục". Các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em cho thấy đây là một vấn đề nghiêm trọng trên thế giới, diễn ra ở mọi quốc gia dưới những dạng thức đa dạng và thường bắt nguồn từ các hoạt động văn hoá, kinh tế và xã hội. Không có nhóm dân số nào không có hiện tượng lạm dụng trẻ em ở các cấp độ khác nhau.

Những nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em ở Việt Nam hiện nay hầu hết là các nghiên cứu quy mô nhỏ hoặc được lồng ghép trong các nghiên cứu về gia đình, trẻ em, giới và sức khoẻ. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2007-2012, có khoảng 8.500 trường hợp bạo lực đối với trẻ em, bao gồm giết trẻ sơ sinh, lạm dụng trẻ em và cưỡng hiếp. Mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục được báo cáo, trong đó hơn 1.200 trẻ em bị xâm hại tình dục (chiếm hơn 60%). Bạo lực thân thể có thể xảy ra trong cả gia đình, nhà trường, cộng đồng và có xu hướng lan rộng; bạo lực tinh thần diễn ra dưới nhiều hình thức như mắng mỏ, sỉ nhục, quát tháo.

Bạo lực đối với trẻ em chịu tác động của nhiều yếu tố cá nhân (giới tính, độ tuổi), gia đình (tư tưởng Nho giáo, chế độ gia trưởng, trình độ giáo dục của cha mẹ) và thiết chế xã hội (quy định quản lý, giám sát ở trường học). Xâm hại tình dục trẻ em là dạng nghiêm trọng của bạo lực, với số liệu thực tế có thể lớn hơn nhiều so với báo cáo do tính nhạy cảm của vấn đề.

Các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em ở Việt Nam hiện nay thường chỉ được triển khai với quy mô nhỏ, chưa đưa ra được bức tranh tổng thể về vấn đề này. Vì vậy nghiên cứu này thu thập các thông tin, số liệu sẵn có từ nhiều địa phương trên toàn quốc, các quy định của luật pháp, chính sách cũng như tập trung phân tích sâu những trường hợp bạo lực điển hình và tổng quan các nghiên cứu từ trước đến nay. Qua đó sẽ đưa ra bức tranh tổng thể về vấn đề bạo lực trẻ em tại Việt Nam, các nguyên nhân, yếu tố tác động, đây sẽ là cơ sở khoa học để đưa ra những giải pháp can thiệp để giảm tình trạng bạo lực trẻ em trong thời gian tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

          a. Mục tiêu tổng quát

          Đề xuất các giải pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng bạo lực đối với trẻ em ở Việt Nam.

          b. Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân gây bạo lực đối với trẻ em tại Việt Nam;

- Tìm hiểu các kinh nghiệm trong nước và quốc tế trong việc giảm thiểu tình trạng bạo lực trẻ em;

- Đề xuất giải pháp giảm tình trạng bạo lực ở trẻ em.

3. Kết cấu của đề tài

          Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu gồm 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan;

- Chương 2: Thực trạng bạo lực trẻ em ở Việt Nam;

- Chương 3: Giải pháp nhằm giảm thiểu, khắc phục tình trạng trẻ em bị bạo lực;

- Chương 4: Kết luận và khuyến nghị.

4. Nội dung chính của đề tài

          4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan

Chương này hệ thống hoá các khái niệm về trẻ em và bạo lực trẻ em theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Luật Trẻ em, đồng thời phân loại các hình thức bạo lực (thân thể, tình dục, tinh thần, xao nhãng) theo khung của ASEAN và Liên hợp quốc. Nội dung tiếp theo phân tích hậu quả của bạo lực đối với bản thân trẻ em, gia đình và cộng đồng, xã hội trên cả hai phương diện thể chất và tinh thần. Phần cuối chương tổng hợp kinh nghiệm quốc tế qua 6 nhóm mô hình chiến lược can thiệp đã có hiệu quả tốt trong việc phòng ngừa và ngăn chặn bạo lực gia đình:

(1) Hỗ trợ cha mẹ, người bảo trợ và gia đình: Chiến lược này gồm các hoạt động giáo dục gia đình, và các bậc cha mẹ, được thực hiện ngay khi đứa trẻ mới được sinh ra từ đó giúp các bậc cha mẹ có thể dùng những biện pháp kỷ luật tích cực, không bạo lực thay cho các biện pháp sử dụng bạo lực để giáo dục con;

(2) Trợ giúp trẻ em dễ bị tổn thương hay yếu thế tránh bị rủi ro và thách thức: Cung cấp kỹ năng cho trẻ để trẻ có thể ứng phó và quản lý rủi ro để không xảy ra bạo lực, đồng thời hướng dẫn trẻ biết tìm kiếm những sự hỗ trợ khi mà bạo lực xảy ra;

(3)  Thay đổi những chuẩn mực và thái độ khuyến khích bạo lực của cộng đồng: Chiến lược này bao gồm một số hoạt động ở trường học và cộng đồng. Các chương trình dựa vào trường học để giúp sinh viên giải quyết các khía cạnh tình huống bạo lực tình dục, thể chất và bạo lực tinh thần; bao gồm cả hành vi bắt nạt của sinh viên, bạo lực trong cuộc hẹn hò, bạo lực do các băng đảng và bạo lực thông qua điện thoại di động hoặc phương tiện trực tuyến;

(4) Quảng bá và cung cấp những sự trợ giúp cho chính trẻ em: Chiến lược này hướng tới khuyến khích trẻ tìm kiếm những sự trợ giúp có chất lượng, khuyến khích trẻ nói ra những bạo lực gây đến với chúng và cũng là giúp đỡ đứa trẻ đối phó và giải quyết tốt hơn với những tình huống bạo lực;

(5) Nâng cao năng lực thực hiện những luật và chính sách bảo vệ trẻ em: Thực thi nghiêm túc những chính sách, luật pháp bảo vệ trẻ em là gửi một thông điệp mạnh mẽ đến xã hội rằng: “Bạo lực là không thể chấp nhận được và sẽ bị trừng phạt”;

(6)  Tiến hành những hoạt động thu thập số liệu và những nghiên cứu: Các số liệu điều tra quốc gia rất quan trọng để tăng cường cơ sở kiến ​​thức cơ bản về bạo lực đối với trẻ em. Dữ liệu có thể giúp theo dõi tình trạng bạo lực ở cấp quốc gia và địa phương (với các ví dụ điển hình tại Liberia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Phi, Brazil, Jordan, Croatia, Sudan, Thuỵ Điển và Indonesia), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

4.2. Chương 2: Thực trạng bạo lực trẻ em ở Việt Nam

          Chương này phân tích thực trạng bạo lực trẻ em qua số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Công an giai đoạn 2011-2016, cho thấy xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp của các vụ xâm hại tình dục và bạo lực thân thể. Trên cơ sở phân tích 253 vụ việc điển hình được báo chí phản ánh năm 2016, nghiên cứu chỉ ra đặc điểm của trẻ bị bạo lực (độ tuổi, giới tính), các hình thức bạo lực phổ biến (thân thể, tình dục, tinh thần), địa điểm xảy ra (gia đình, nhà trường, nơi công cộng) và đối tượng gây bạo lực (người lạ, cha mẹ, cha dượng/mẹ kế, thầy cô giáo).

          Chương cũng rà soát hệ thống pháp luật, chính sách hiện hành liên quan đến phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp cho trẻ em bị bạo lực, đồng thời phân tích các nguyên nhân dẫn đến bạo lực trẻ em từ góc độ kinh tế - xã hội, quan hệ gia đình, nhận thức xã hội, đặc điểm tâm lý trẻ em và sự phát triển của mạng internet.

          4.3. Chương 3: Giải pháp nhằm giảm thiểu, khắc phục tình trạng bạo lực trẻ em

          Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế, khó khăn, vướng mắc hiện nay — bao gồm những khoảng trống của hệ thống pháp luật, sự phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các cơ quan, công tác truyền thông chưa hiệu quả, hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em còn hạn chế, đội ngũ cán bộ thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn, cùng nguồn lực tài chính chưa đáp ứng yêu cầu. Đề tài đề xuất bảy nhóm giải pháp:

(1) Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông về bảo vệ trẻ em;

(2) Hoàn thiện hệ thống pháp luật;

(3) Tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ trẻ em, ưu tiên phòng ngừa, xử lý các vụ việc xâm hại trẻ em;

(4) Củng cố dịch vụ bảo vệ trẻ em;

(5) Củng cố và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em;

(6) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa xâm hại, bạo lực trẻ em;

(7) Bố trí đủ nhân lực, kinh phí và các điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện công tác phòng ngừa bạo lực trẻ em.

          4.4. Chương 4: Kết luận và khuyến nghị

          Đề tài cho rằng tình hình bạo lực trẻ em tại Việt Nam có xu hướng tăng, diễn biến phức tạp, trong đó nhóm trẻ 11-17 tuổi và trẻ em gái là đối tượng dễ bị tổn thương nhất; bạo lực xảy ra ngay cả trong các môi trường được coi là an toàn như gia đình và nhà trường. Nguyên nhân bao gồm yếu tố kinh tế - xã hội, quan hệ gia đình, nhận thức xã hội, hạn chế về tổ chức bộ máy và nguồn lực. Từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng trong nước, đề tài kiến nghị cần tiến hành các cuộc điều tra quy mô lớn trên toàn quốc về bạo lực trẻ em; quan tâm yếu tố vùng miền và hoàn cảnh gia đình khi xây dựng giải pháp; triển khai đồng bộ các giải pháp về nhận thức, pháp luật, dịch vụ và nguồn lực; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Thị Mơ, Thư ký đề tài; ThS. Nguyễn Thị Kiều Vân, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em - Thành viên; CN. Châu Thị Minh Anh, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em - Thành viên; ThS. Nguyễn Thị Thúy, Bệnh viện Nhi Trung ương - Thành viên; TS. Trần Thị Minh Thi, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam - Thành viên; ThS. Nguyễn Hà Đông, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam - Thành viên; ThS. Đặng Thanh Nhàn, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm KHXH Vi

Từ khóa: Bạo lực trẻ em xâm hại trẻ em bảo vệ trẻ em phòng ngừa bạo lực Việt Nam

Tên file View
CB2016-08-14.pdf Đăng nhập để xem
Giải pháp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Quách Thị Quế

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đề xuất giải pháp phát triển đào tạo trực tuyến trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thanh Tùng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý văn bằng số trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Luyến

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Xây dựng khung năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở địa phương đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Hải Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đổi mới hoạt động truyền thông trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS Cao Văn Sâm

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo cho cán bộ các cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Vân

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm tình trạng bạo lực với trẻ em ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Vũ Thị Kim Hoa

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu xây dựng chuẩn mô hình “phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng”

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Nga

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2017

Thực trạng và giải pháp tăng cường năng lực các tổ chức pháp chế ngành lao động, thương binh và xã hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu năng lực quản trị nhà nước về giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Đinh Xuân Thành

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |