Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phương

Năm đăng ký: 2018

Năm nghiệm thu: 2018

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết 19/NQ-TW ngày 25/10/2017 đã định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: “Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở và linh hoạt đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động”.  Hiện nay Việt Nam đã có mạng lưới cơ sở GDNN được phân bố rộng khắp trên cả nước, đa dạng về loại hình, trình độ đào tạo và mô hình hoạt động, bao gồm: trường cao đẳng, trung cấp, trung tâm GDNN. Tuy nhiên, để mạng lưới các cơ sở GDNN hoạt động có hiệu quả hơn thì cần có các giải pháp sắp xếp lại theo hướng giảm số lượng và tăng quy mô cơ sở GDNN, đồng thời tăng cường năng lực tự chủ để các cơ sở GDNN có đủ năng lực triển khai đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu kỹ năng nghề ngày càng tăng và thường xuyên thay đổi trong bối cảnh kỷ nguyên số và đặc biệt là Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới.

Đổi mới giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và hội nhập quốc tế là một nhiệm vụ quan trọng được đưa vào “Chương trình trọng điểm” của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Đây là chủ trương đúng đắn và cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết XII của Đảng “đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp”. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có nhiều giải pháp liên quan tới công tác quản lý nhà nước, mục tiêu đổi mới. Trong đó giải pháp trọng tâm là: Đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đảm bảo tính cạnh tranh, tăng cường tính tự chủ, nâng cao chất lượng hiệu quả, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Trong giai đoạn tới sẽ có chuyển biến mạnh mẽ trong hệ thống GDNN, chuyển từ thí điểm ở một số trường sang đẩy mạnh cơ chế tự chủ tại nhiều cơ sở GDNN, tạo cơ sở vững chắc cho giai đoạn 2019 - 2025 sẽ tập trung xây dựng chuẩn kiến thức, kỹ năng ngành nghề đào tạo phù hợp với khung trình độ quốc gia Việt Nam, đi đôi với chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, nhằm hình thành mạng lưới các trường nghề chất lượng cao theo chuẩn khu vực Asean và quốc tế.

Hiện nay cả nước có gần 2.000 cơ sở GDNN, riêng năm 2018 các cơ sở GDNN trong cả nước sẽ tuyển sinh hơn 2,2 triệu người. Với khối lượng nhiệm vụ đào tạo mới chuyển giao theo Luật GDNN năm 2014 cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lớn, do vậy nên phần lớn các cơ sở GDNN nói chung và Trường cao đẳng dạy nghề nói riêng vẫn còn lúng túng trong tìm kiếm và áp dụng mô hình quản trị tiên tiến nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động trong nước và hội nhập Quốc tế. Từ tiếp cận tổng quan các yếu tố vĩ mô, nhóm tác giả nhận thấy ba xu hướng hình thành khá rõ nét trong lĩnh vực GDNN như sau:

Thứ nhất, chuyển dần sang áp dụng phương thức quản trị tự chủ toàn diện tương tự của doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nghề. Các cơ sở GDNN không chỉ tự nâng cao năng lực tự chủ, mà còn tự chịu trách nhiệm và giải trình với các “bên có lợi ích liên quan” như doanh nghiệp. Các cơ sở GDNN phát triển theo hướng trường nghề chất lượng cao để đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp cao, nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của người lao động và của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ hai, phát triển các cơ sở GDNN theo hướng linh hoạt phù hợp với sự thay đổi của thị trường lao động trong bối cảnh Kỷ nguyên số; xây dựng “hệ sinh thái GDNN”, theo hướng mở và liên thông. Nhà nước có cơ chế, chính sách đặc thù và hỗ trợ đầu tư đồng bộ cho các trường nghề được đạt tiêu chuẩn kiểm định và hoàn thiện các tiêu chí của trường nghề chất lượng cao; đồng thời có cơ chế, chính sách khuyến khích, đẩy mạnh xã hội hóa để những trường nghề khác xây dựng đạt các tiêu chí của trường nghề chất lượng cao và được đánh giá, công nhận; khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, các doanh nghiệp tham gia phát triển hệ thống GDNN.

Thứ ba, các cơ sở GDNN có xu hướng ứng dụng sâu, rộng công nghệ thông tin và ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để xây dựng hệ thống thông tin quản trị trong nhà trường đáp ứng khả năng đào tạo từ xa, học qua mạng theo hướng linh hoạt; phát triển hệ thống mạng thông tin thị trường lao động để gắn kết người học - cơ sở dạy nghề - người sử dụng lao động thông qua các phần mềm thông minh, sàn giao dịch việc làm để đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực chất lượng cao qua đào tạo cho các doanh nghiệp, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, nhu cầu học nghề của mọi người lao động.

Trước các xu hướng trên, ở nhiều địa phương mặc dù có nhiều trường dạy nghề, nhu cầu học nghề lớn nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động có tay nghề cao từ các doanh nghiệp của chính địa phương mình. Từ đó đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải có những giải pháp mô hình quản trị trong nội bộ các trường nghề nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động và quản trị hiệu quả nguồn lực hiện có. Mặt khác, bên cạnh các biện pháp hỗ trợ, chính sách tích cực của cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương, các cơ sở dạy nghề còn phải nâng cao chất lượng quản lý đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ nên chưa đáp ứng được nhu cầu lao động và ứng dụng khoa học kỹ thuật của các doanh nghiệp tại địa phương. Các cơ sở dạy nghề cần xem xét ở góc độ cân bằng được lợi ích của các bên liên quan trong hoạt động dạy nghề, cân bằng được các mục tiêu hoạt động chính để phù hợp với sứ mệnhvà tầm nhìn của mình.

Để triển khai, cần có những nghiên cứu, cơ sở khoa học và đặc biệt là nghiên cứu các mô hình quản trị mô phỏng để thực hiện đổi mới nhanh chóng giáo dục nghề nghiệp (GDNN) từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu giúp các cơ sở GDNN tiến tới tự chủ hoàn toàn đi đôi với nâng cao chất lượng và hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao và nhu cầu thay đổi liên tục của thị trường lao động, dòng dịch chuyển lao động và hội nhập Quốc tế. Mô hình quản trị cũng phải phù hợp, có tính khả thi khi dùng tại các cơ sở GDNN, nhằm mục tiêu tự chủ hoàn toàn, đáp ứng các tiêu chí trường nghề chất lượng cao và yêu cầu thị trường lao động. Quản trị hiệu suất hoạt động thông qua ứng dụng mô hình “Thẻ điểm cân bằng” kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin để kiểm soát các kết quả hoạt động trọng yếu trong mối quan hệ với mục tiêu, sứ mệnh và tầm nhìn của các cơ sở GDNN là giải pháp chiến lược hướng tới tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ sở GDNN.

Nghiên cứu này sẽ làm rõ khái niệm và khả năng ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng trong quản trị chiến lược và ứng dụng các thước đo hiệu suất trọng yếu, kết hợp với thành tựu của công nghệ thông tin thông qua việc cân bằng bốn khía cạnh chính: khách hàng (người học, người sử dụng lao động), quy trình nội bộ, tài chính, học hỏi và phát triển. Dựa trên kết quả nghiên cứu về nhu cầu quản trị hiệu suất hoạt động, điều kiện và khả năng chấp nhận mô hình quản trị hiệu suất tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp; các yếu tố tác động đến việc chấp nhận và triển khai mô hình quản trị hiệu suất hoạt động; nghiên cứu kinh nghiệm một số đơn vị đã áp dụng mô hình “Thẻ điểm cân bằng” để đề xuất khung lý thuyết và dự thảo các công cụ đo lường định lượng kết quả trọng yếu; cũng như đề xuất các giải pháp thực hiện và duy trì với sợ hỗ trợ của hệ thống thông tin quản lý tại các cơ sở GDNN trong Kỷ nguyên số.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở GDNN trong kỷ nguyên số.

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định các mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động phù hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp từ bốn góc độ: người học; quy trình đào tạo; học hỏi và phát triển; tài chính.

- Đánh giá thực trạng kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và khả năng chấp nhận mô hình quản trị hiệu suất thông qua “Thẻ điểm cân bằng”.

- Đề xuất giải pháp và điều kiện để ứng dụng mô hình “Thẻ điểm cân bằng” tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

3. Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Chương 2. Thực trạng kiểm soát hiệu suất hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số.

Chương 3. Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số.

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Để xây dựng một hệ thống quản trị vững chắc, chương này tập trung hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về kiểm soát hiệu suất hoạt động và các đặc thù quản lý trong môi trường giáo dục nghề nghiệp (GDNN). Nghiên cứu chỉ rõ kiểm soát hiệu suất không chỉ đơn thuần là việc theo dõi các con số tài chính ngắn hạn, mà là một quy trình quản trị chiến lược liên tục, giúp nhà trường đo lường, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu dài hạn đề ra. Trong bối cảnh các trường công lập đang chuyển dịch mạnh mẽ sang cơ chế tự chủ, lý thuyết quản trị hiện đại đòi hỏi một công cụ quản lý toàn diện mang tính "cân bằng". Từ đó, chương một làm rõ vai trò cốt lõi của mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) khi được áp dụng vào khối dịch vụ công và giáo dục. Khác với khối doanh nghiệp đặt khía cạnh Tài chính lên hàng đầu, mô hình BSC trong GDNN được điều chỉnh để đưa khía cạnh Khách hàng (người học, phụ huynh và đơn vị sử dụng lao động) lên vị trí tối cao, coi chất lượng đào tạo và sự hài lòng của xã hội là cái đích cuối cùng.

Bên cạnh đó, chương lý luận cũng đi sâu phân tích tác động mạnh mẽ của bối cảnh kỷ nguyên số đến việc thay đổi tư duy kiểm soát hiệu suất. Sự phát triển của công nghệ thông tin không chỉ làm thay đổi cách thức vận hành, giảng dạy mà còn đòi hỏi các thước đo hiệu suất (KPIs) phải được số hóa, cập nhật theo thời gian thực (real-time) thay vì báo cáo định kỳ theo năm học mang tính chậm trễ. Lý thuyết về quản trị mở, tổ chức phẳng và hệ sinh thái học tập số được luận giải như một điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự chấp nhận mô hình quản trị mới. Việc xây dựng thành công khung lý thuyết này ở chương một chính là kim chỉ nam và thước đo khoa học để nhóm tác giả tiến hành khảo sát, phân tích thực trạng ở chương hai cũng như thiết kế mô hình ứng dụng thực tế ở chương ba.

Chương 2: Thực trạng kiểm soát hiệu suất hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số. Qua khảo sát thực tế tại các trường nghề với quy mô nhân sự và học sinh sinh viên lớn, nghiên cứu chỉ ra rằng công tác quản trị chiến lược tại các cơ sở GDNN hiện nay còn mang tính ngắn hạn và chưa có mô hình cụ thể, phần lớn chưa công bố tuyên bố tầm nhìn, sứ mệnh chính thức hoặc chỉ lưu hành nội bộ không phù hợp với mạng lưới chung. Kết quả đánh giá định lượng và phỏng vấn sâu phản ánh rõ nét mức độ ưu tiên của các nhà quản trị đối với bốn khía cạnh BSC, trong đó khía cạnh Khách hàng (thể hiện qua chất lượng đào tạo nghề) được ưu tiên cao nhất với điểm bình quân 4.42, tiếp theo là Quy trình nội bộ (3.55), Học hỏi - phát triển (3.31) và Tài chính (2.87). Mặc dù chất lượng đào tạo và quy trình nội bộ được quan tâm hàng đầu như một tiền đề để làm hài lòng người học và đối phó với môi trường cạnh tranh, song các thước đo này vẫn còn rời rạc, mang tính tối ưu hóa cục bộ, thiếu sự kết nối chặt chẽ với chiến lược dài hạn và chưa thực hiện đánh giá mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng lao động.

Bước sang kỷ nguyên số, bối cảnh công nghệ đang đặt ra những thách thức lớn về sự thay đổi mô hình tổ chức theo hướng phẳng hóa, quản trị mở dựa trên cam kết, và nhu cầu xây dựng hệ sinh thái học tập, quản lý hiệu suất theo thời gian thực. Nhóm tác giả đã tiến hành kiểm định mô hình hồi quy đa biến đối với 378 người phản hồi để xác định bốn nhân tố ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận mô hình BSC bao gồm: Hệ thống công nghệ thông tin nội bộ (tác động mạnh nhất với hệ số beta 0.438), Sự am hiểu của cán bộ giảng viên (0.290), Mức độ chấp nhận của Ban giám hiệu (0.243), và Kinh phí triển khai (tác động thấp nhất với 0.207). Phân tích này khẳng định rằng sự cam kết dẫn dắt của lãnh đạo kết hợp với truyền thông nội bộ mạnh mẽ và nền tảng công nghệ thông tin vững chắc sẽ phá vỡ các rào cản chia sẻ tri thức, tạo sự đồng thuận cao trong toàn bộ bộ máy để tiếp nhận hệ thống quản trị hiệu suất mới.

Chương 3: Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số. Để chứng minh tính khả thi của lý thuyết, đề tài đã tiến hành mô phỏng ứng dụng BSC tại Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội (HIEC) – một đơn vị có bề dày lịch sử, đang tự chủ một phần và sở hữu quy mô hơn 4.000 học sinh sinh viên với đa dạng ngành nghề đào tạo. Trên cơ sở mục tiêu chiến lược trở thành trường chất lượng cao và tự chủ hoàn toàn vào năm 2025, nghiên cứu đã cụ thể hóa thành 14 mục tiêu tổng hợp và gán 32 chỉ số hiệu suất trọng yếu (KPI) chia đều cho bốn khía cạnh của BSC. Kết quả mô phỏng năm học 2017-2018 cho thấy HIEC đạt tỷ lệ hoàn thành chiến lược rất cao lên đến 97% nhờ sở hữu hệ thống phần mềm quản lý chất lượng QMC tốt và đã ban hành được hệ thống quy trình nội bộ phong phú tiệm cận với mô hình OKR.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng thẳng thắn vạch rõ những điểm yếu và bốn rào cản quản trị truyền thống tại HIEC bao gồm: tầm nhìn chiến lược chưa chuyển hóa triệt để thành hành động, mục tiêu chiến lược chưa liên kết đồng bộ đến từng khoa phòng và cá nhân, phân bổ ngân sách ngắn hạn chưa gắn chặt với ưu tiên dài hạn, và các phản hồi chỉ mới dừng lại ở mức tác nghiệp tài chính ngắn hạn thay vì mang tính chiến lược. Từ thực tiễn đó, nhóm tác giả đề xuất lộ trình ứng dụng BSC đồng bộ cho HIEC và các cơ sở GDNN, nhấn mạnh điều kiện tiên quyết là sự cam kết dựa trên sự hiểu biết sâu sắc của Ban giám hiệu, sự tập trung nguồn lực tránh phân tán, việc tích hợp BSC với hệ thống thông tin quản lý, và đặc biệt là cải cách cơ chế trả lương, phụ cấp dựa trên kết quả đánh giá KPI theo vị trí việc làm để kích thích tinh thần đổi mới sáng tạo của đội ngũ nhân lực.

 

Thành viên đề tài:

TS. Nguyễn Chí Trường Tổng Cục GDNN TS. Phạm Hải Hưng Trường Đại học Lao động - Xã hội TS. Nguyễn Thị Tuyết Vân Trường Đại học Lao động - Xã hội TS. Ngô Anh Cường Trường Đại học Lao động - Xã hội TS. Đỗ Thi Tuyết Trường ĐH Công đoàn ThS. Kim Hồng Hưng Tổng Cục GDNN TS. Trần Xuân Ngọc Trường CĐ nghề công nghệ cao HN TS. Hà Xuân Hùng Trường Đại học Lao động - Xã hội

Từ khóa: Hiệu suất hoạt động Mô hình kiểm soát Cơ sở giáo dục Giáo dục nghề nghiệp Kỷ nguyên số

Tên file View
20260618203604-10301.-bao-cao-tong-hop-v8.pdf Đăng nhập để xem
Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hồng Minh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Tiêu Thị Minh Hường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thế Huệ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: KS. Phan Đăng Thọ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tiếp cận khung đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN-QA)

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Thanh Hà

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |