Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Hồng Minh
Năm đăng ký:
2014
Năm nghiệm thu:
2015
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Chất lượng và hiệu quả đào tạo được đánh giá qua mức độ đáp ứng của sản phẩm đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực. Tuy nhiên, hiện này sản phẩm đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng cả về cả số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo.
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sản phẩm đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Trong đó có nguyên nhân quan trọng là thiếu hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện (NLTH) quy định đối với sản phẩm đào tạo được xây dựng dựa trên sự thống nhất giữa bên cung (các cơ sở đào tạo) và bên cầu (các cơ sở sử dụng lao động).
Hiện nay, đào tạo giáo viên dạy nghề (GVDN) ở các trường ĐHSPKT chủ yếu dựa vào khung thời gian quy định cho mỗi trình độ đào tạo để tổ chức dạy học cũng như yêu cầu về mức độ năng lực đối với SV sao cho không vượt quá khung thời gian đó. Với cách dạy học như vậy, SV luôn bị thúc ép về mặt thời gian, cứ hết thời gian là phải chuyển sang học nội dung mới kể cả khi chưa đạt được tiêu chuẩn theo quy định cho nội dung trước đó. Trong khi các trường ĐHSPKT dựa chủ yếu vào khung thời gian để dạy học thì các trường dạy nghề lại không quan tâm đến thời gian SV được đào tạo mà họ quan tâm đến các NLTH đạt được ở SV theo tiêu chuẩn của họ. Vì vậy, sinh viên tốt nghiệp chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của các trường dạy nghề.
Ở các cơ sở dạy nghề, do thiếu hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GVDN nên việc tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, bồi dưỡng đội ngũ GVDN cho mỗi vị trí việc làm chưa thực sự phù hợp với yêu cầu công việc.
Mặc dù đã có một số tài liệu đề cấp đến chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này còn khái quát, thiếu các tiêu chí, chỉ số và minh chứng cụ thể để xác định. Vì vậy, khả năng áp dụng của các tiêu chuẩn này còn hạn chế.
Từ những căn cứ lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn vấn đề “Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của GVDN” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GVDN làm căn cứ để phát triển chương trình, tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo GVDN ở các trường ĐHSPKT.
3. Kết cấu của đề tài Gồm 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GVDN.
- Chương 2: Thực trạng tiêu chuẩn NLTH của GVDN.
- Chương 3: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GVDN.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1, đề tài luận giải cơ sở lý luận về xây dựng khung tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề:
Đề tài hệ thống hóa các khái niệm cơ bản, phân biệt “năng lực” (competence) với “năng lực thực hiện - NLTH” (competency); làm rõ khái niệm giáo viên dạy nghề (GVDN) theo Điều 58 Luật Dạy nghề; phân tích khái niệm tiêu chuẩn NLTH và khung tiêu chuẩn NLTH, trong đó mỗi tiêu chuẩn NLTH gồm 5 cấu phần: sự thực hiện, điều kiện thực hiện, tiêu chuẩn (tiêu chí của sự thực hiện), kiến thức - khả năng có liên quan và phương pháp đánh giá, lập hồ sơ.
Đề tài phân tích căn cứ pháp lý (Điều 58 Luật Dạy nghề, Điều 70 Luật Giáo dục, Thông tư số 05/2013/TT-BNV) và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng chuẩn GVDN; làm rõ đặc trưng nghề nghiệp đa dạng, phức tạp của GVDN - người vừa đảm nhận vai trò nhà giáo, kỹ sư, nhà quản lý, chuyên gia đào tạo, chuyên gia kinh tế, chuyên gia tâm lý, cán bộ tư vấn và nhà hoạt động xã hội; đồng thời xác định các yêu cầu về phẩm chất (công dân, sư phạm, kỹ thuật) và năng lực (chuyên môn nghề, sư phạm) của người GVDN.
Đề tài trình bày các cách tiếp cận để xây dựng khung tiêu chuẩn NLTH (tiếp cận hệ thống, tiếp cận mô hình hoạt động, tiếp cận phân tích nghề theo phương pháp DACUM kết hợp phân tích chức năng); mô tả cấu trúc khung chuẩn theo ba cấp tiêu chuẩn - tiêu chí - mức độ thực hiện (đánh giá theo 4 mức M1 đến M4, kèm các minh chứng) và nội dung khung chuẩn gồm 5 nhóm năng lực cơ bản của GVDN.
Đề tài tổng hợp, phân tích kinh nghiệm xây dựng khung tiêu chuẩn NLTH của GVDN tại Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức và Vương quốc Anh, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho việc xây dựng khung tiêu chuẩn NLTH của GVDN ở Việt Nam, đặc biệt là sự cần thiết phải xây dựng các cấp độ chuẩn và chỉ số đo cụ thể.
4.2. Chương 2, đề tài đánh giá thực trạng khung chuẩn nghề nghiệp của giáo viên dạy nghề:
Đề tài tiến hành khảo sát tại 4 trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (ĐHSPKT) trong cả nước với 54 cán bộ quản lý (CBQL), 186 giáo viên (GV) của các trường ĐHSPKT, 71 GVDN đã tốt nghiệp từ các trường ĐHSPKT, 43 CBQL của các cơ sở dạy nghề và 159 sinh viên, bằng các phương pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra bằng bảng hỏi, tổng kết kinh nghiệm dạy học và lấy ý kiến chuyên gia.
Kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp GVDN hiện hành (Thông tư 30/2010/TT-BLĐTBXH, gồm 4 tiêu chí và 16 tiêu chuẩn) cho thấy nhiều bất cập: 98% ý kiến cho rằng các tiêu chí, tiêu chuẩn chưa thể hiện được sự tích hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp; 93,77% cho rằng còn thiếu chỉ số và minh chứng cụ thể; 88,75% cho rằng chưa đủ cơ sở để đánh giá NLTH của GVDN; 75,84% cho rằng các tiêu chí, tiêu chuẩn chưa tương ứng với các công việc trong sơ đồ phân tích nghề của GVDN.
Kết quả khảo sát NLTH thực tế của đội ngũ GVDN qua ý kiến của CBQL, GV các trường ĐHSPKT cho điểm trung bình các năng lực dao động từ 2,51 đến 3,67/5; trong khi đánh giá của các đơn vị sử dụng lao động (cơ sở dạy nghề) thấp hơn, chỉ có 3/22 tiêu chí đạt điểm trung bình trên 3 (Phẩm chất đạo đức, Tình trạng sức khỏe, Đánh giá kết quả học tập của HS/SV). Các năng lực được đánh giá yếu nhất gồm: nghiên cứu khoa học, tư vấn - hướng nghiệp, tự học - tự nghiên cứu để phát triển chuyên môn, sử dụng ngoại ngữ, tham gia các tổ chức nghề nghiệp và phối hợp làm việc theo nhóm.
Trên cơ sở đó, đề tài kết luận các trường ĐHSPKT hiện còn thiếu hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GVDN làm cơ sở xây dựng nội dung, chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá kết quả đào tạo và cấp văn bằng chứng chỉ; chuẩn đầu ra đã ban hành còn chung chung, thiếu các tiêu chí đo lường cụ thể. Đề tài cũng chỉ ra Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm đào tạo theo tiếp cận NLTH của các nước phát triển (Hoa Kỳ, Anh, Đức, Trung Quốc) để đổi mới hoạt động đào tạo GVDN.
4.3. Chương 3: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GVDN.
Trên cơ sở nguyên tắc và quy trình xây dựng khung tiêu chuẩn NLTH, đề tài xây dựng và khảo nghiệm khung tiêu chuẩn NLTH của giáo viên dạy nghề:
Đề tài xác định hai nguyên tắc xây dựng khung tiêu chuẩn NLTH của GVDN là đảm bảo tính khoa học và đảm bảo tính khả thi; đồng thời đề xuất quy trình xây dựng gồm 4 bước: (1) phân tích chức năng của GVDN; (2) phân tích nghề dạy nghề theo phương pháp DACUM - xác định nhiệm vụ, công việc của nghề và đánh giá mức độ quan trọng của từng nhiệm vụ, công việc thông qua hội thảo và ý kiến chuyên gia; (3) phân tích từng công việc cụ thể; (4) biên soạn tiêu chuẩn NLTH theo 5 nội dung: mô tả công việc, tiêu chí thực hiện, kỹ năng - kiến thức thiết yếu, điều kiện thực hiện, tiêu chí và cách thức đánh giá.
Vận dụng quy trình trên, đề tài xây dựng hệ thống tiêu chuẩn NLTH cho giáo viên dạy nghề công nghệ ô tô làm minh chứng áp dụng, gồm hai nhóm: nhóm tiêu chuẩn năng lực chung và năng lực sư phạm với 9 tiêu chuẩn (Phát triển chương trình đào tạo; Phát triển dạy học; Thực hiện dạy học; Đánh giá kết quả học tập của HS/SV học nghề; Đánh giá khóa học; Giáo dục HS, SV học nghề; Quản lý dụng cụ, thiết bị và vật tư dạy học nghề; Tư vấn nghề nghiệp cho HS, SV học nghề; Tham gia các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp và nghiên cứu khoa học) tương ứng với 54 tiêu chí; và nhóm tiêu chuẩn năng lực chuyên môn với 4 tiêu chuẩn (Chẩn đoán ô tô; Bảo dưỡng và sửa chữa gầm ô tô; Bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống trang bị điện trên ô tô; Bảo dưỡng và sửa chữa động cơ ô tô). Như vậy, khung tiêu chuẩn NLTH của GVDN được đề tài đề xuất gồm 13 tiêu chuẩn với 92 tiêu chí, mỗi tiêu chí được mô tả theo 4 mức độ thực hiện (từ M1 đến M4) kèm các minh chứng cụ thể.
Kết quả khảo nghiệm trên 168 người (gồm CBQL, GV của 4 trường ĐHSPKT và CBQL, GV các cơ sở dạy nghề) cho thấy 86% tiêu chuẩn NLTH được đánh giá là cần thiết hoặc rất cần thiết, 14% được đánh giá tương đối cần thiết và không có tiêu chuẩn nào bị đánh giá là không cần thiết; về tính phù hợp, 35% tiêu chuẩn được đánh giá phù hợp hoặc rất phù hợp, 65% còn lại được đánh giá tương đối phù hợp và không có tiêu chuẩn nào bị đánh giá không phù hợp. Kết quả khảo nghiệm đã chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học mà đề tài đặt ra, khẳng định việc vận dụng hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GVDN vào xây dựng chương trình, tổ chức dạy học và đánh giá năng lực sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo GVDN ở các trường ĐHSPKT. Trên cơ sở đó, đề tài kiến nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sớm nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp của GVDN theo hướng tiếp cận năng lực; các trường ĐHSPKT cần nghiên cứu, hoàn thiện và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn NLTH vào đổi mới chương trình đào tạo và đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo.
Thành viên đề tài:
ThS. Nguyễn Quang Việt, Phó Viện trưởng Viện NCKHDN; - ThS. Lê Thị Mai Hoa, Ban Tuyên giáo Trung ương; PGS.TS. Mạc Văn Tiến, Viện trưởng Viện NCKHDN; ThS. Mai Phương Bằng, Trưởng phòng, Viện NCKHDN; PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí, Ban Tuyên giáo Trung ương; TS. Đào Nguyên Phúc, Ban Tuyên giáo Trung ương
Từ khóa:
Năng lực thực hiện Tiêu chuẩn năng lực thực hiện Khung tiêu chuẩn năng lực thực hiện Giáo viên dạy nghề Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật
|
Tên file |
View |
|
CB2014-04-29.pdf
|
Đăng nhập để xem
|