Phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy
Chủ nhiệm:
TS. Tiêu Thị Minh Hường
Năm đăng ký:
2018
Năm nghiệm thu:
2018
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới tại Việt Nam bên cạnh những thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội đã nảy sinh nhiều mặt trái phức tạp, nổi bật là vấn nạn nghiện ma túy với số lượng người nghiện có hồ sơ quản lý tăng nhanh chóng qua các năm. Dù Chính phủ đã đầu tư rất nhiều kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất và trả lương cho cán bộ tại các trung tâm cai nghiện, song hiệu quả duy trì sau cai nghiện theo mô hình chăm sóc liên tục (giải độc - phục hồi - chăm sóc sau điều trị) còn rất khiêm tốn với tỷ lệ tái nghiện lên đến trên 90% chỉ sau một thời gian ngắn hòa nhập cộng đồng. Nguyên nhân cốt lõi là do năng lực tổ chức quản lý của hệ thống trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục lao động xã hội và các cơ sở điều trị, tư vấn cai nghiện còn nhiều hạn chế, cán bộ phần lớn chưa được đào tạo chuyên môn sâu, đồng thời chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các cơ quan để hỗ trợ người nghiện phục hồi. Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2596/QĐ-TTg về Đề án đổi mới công tác cai nghiện đến 2020 nhằm thay đổi quan niệm về người nghiện, tập trung toàn diện vào các yếu tố tâm lý, xã hội và hệ thống dịch vụ công tác xã hội (CTXH). Song song đó, Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 cũng tạo tiền đề để phát triển lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tế tại các địa phương hiện nay, hệ thống dịch vụ CTXH hỗ trợ người nghiện ma túy vẫn chưa đồng bộ, chủ yếu mang tính chất thí điểm, gây cản trở lớn cho nỗ lực duy trì bền vững kết quả cai nghiện và tạo cơ hội hòa nhập cộng đồng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, giúp nâng cao nhận thức xã hội, hoàn thiện tri thức thực trạng, và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc, trợ giúp người nghiện.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy;
- Tổng quan kinh nghiệm quốc tế về dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy;
- Thực trạng dịch vụ Công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy hiện nay tại Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp, lộ trình và điều kiện phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy ở Việt Nam.
3. Kết cấu của đề tài
Nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy
Chương 3: Các giải pháp phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy
Hệ thống cơ sở lý luận của đề tài trước hết được xây dựng dựa trên việc làm rõ các khái niệm cốt lõi trong nghiên cứu. Theo Luật Phòng, chống ma túy của Việt Nam, ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người khi dung nạp vào cơ thể; các loại phổ biến hiện nay gồm dạng thuốc phiện, ma túy tổng hợp dạng Amphetamine, cần sa và cocaine. Từ đó, nghiện ma túy được định nghĩa là hiện tượng phụ thuộc cả về thể chất lẫn tinh thần vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng, dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân, gây hại cho cá nhân và xã hội. Về mặt y học, đây là một bệnh lý não bộ mạn tính, tái phát do sự tổn thương vùng não trước và cơ chế giảm sản xuất Dopamine, đòi hỏi phải được chữa trị và hỗ trợ thay vì chỉ coi là tệ nạn xã hội như quan niệm trước đây. Do đó, người nghiện ma túy là người sử dụng ma túy nhiều lần, bị lệ thuộc sâu sắc, xuất hiện các cơn thèm muốn không cưỡng lại được khi ngừng sử dụng và mất kiểm soát hành vi. Để hỗ trợ đối tượng này, công tác xã hội được vận dụng như một hoạt động chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường chính sách, nguồn lực để giải quyết, phòng ngừa các vấn đề xã hội. Trong hệ thống an sinh, dịch vụ xã hội đóng vai trò là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội nhằm mục tiêu phát triển, đề cao giá trị nhân văn và không vì lợi nhuận thuần túy. Riêng dịch vụ công tác xã hội là hệ thống các hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp hướng tới nhóm yếu thế có vấn đề xã hội nhằm tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của họ để tự vươn lên. Tổng hợp lại, dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy được hiểu là các dịch vụ tư vấn pháp lý, xã hội, hỗ trợ chuyển gửi điều trị cho người nghiện và gia đình họ nhằm phòng ngừa, cai nghiện, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng hiệu quả. Quá trình phát triển dịch vụ này chính là việc xây dựng cơ chế, chính sách và đáp ứng nguồn lực phù hợp với nhu cầu thực tế để kết nối, hoàn thiện các dịch vụ hỗ trợ theo hướng toàn diện và liên tục.
Nội dung phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy tập trung sâu vào bốn mảng dịch vụ trọng tâm được quy định trong các văn bản pháp lý và hướng dẫn kinh tế kỹ thuật của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Mảng dịch vụ thứ nhất là tư vấn, tham vấn, hướng vào việc giải quyết các vấn đề sức khỏe giảm sút, bệnh truyền nhiễm, suy giảm trí nhớ, tính khí thất thường, sự kỳ thị của cộng đồng và tình trạng thất nghiệp mà người nghiện gặp phải. Nhu cầu tư vấn, tham vấn rất đa dạng, bao gồm tiếp cận chăm sóc sức khỏe tâm thần, dịch vụ y tế, tuân thủ điều trị nghiện, giáo dục nhận thức, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ tiếp cận dịch vụ tài chính, việc làm; được thực hiện qua các hình thức linh hoạt như tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình và tham vấn nhóm. Chu kỳ và thời gian sử dụng dịch vụ này cần diễn ra thường xuyên, liên tục để điều chỉnh nhận thức, hành vi và hỗ trợ tâm lý bền vững cho thân chủ, với mức chi phí tương đối thấp hoặc được trợ giúp miễn phí tùy thuộc vào mô hình cơ sở cung cấp (công lập, tư nhân, tại cộng đồng hay tổ chức phi chính phủ). Mảng dịch vụ thứ hai là chăm sóc, trợ giúp, tập trung vào giai đoạn cắt cơn giải độc và điều trị các bệnh cơ hội mạn tính. Hoạt động này huy động sự tham gia của nhiều nhóm như nhân viên CTXH, cán bộ chính quyền, hội đoàn thể, tổ chức phi chính phủ và gia đình; đồng thời báo cáo cũng chỉ ra các lý do người nghiện chưa tiếp cận được dịch vụ như không biết thông tin, thiếu cơ sở địa phương, chi phí cao, thủ tục phức tạp, bị kỳ thị hoặc khoảng cách đi lại xa. Mảng dịch vụ thứ ba là hỗ trợ hòa nhập cộng đồng, bao gồm việc cung cấp dịch vụ tư vấn sàng lọc, xét nghiệm dự phòng tái nghiện; hỗ trợ chăm sóc sức khỏe y tế, trị liệu tâm lý - hành vi; và tổ chức các dịch vụ giáo dục nhằm nâng cao kiến thức về ma túy, dinh dưỡng, sức khỏe tâm thần, đào tạo kỹ năng sống, dạy văn hóa gắn liền với hướng nghiệp. Mảng dịch vụ thứ tư là kết nối, chuyển tuyến, đóng vai trò tạo sự liên thông, linh hoạt thủ tục để chuyển gửi người nghiện tiếp cận nhanh chóng với các dịch vụ điều trị cai nghiện, điều trị bệnh lây truyền, trị liệu tâm lý, giáo dục, học nghề, trợ giúp pháp lý và dịch vụ tài chính (vay vốn ưu đãi qua ngân hàng chính sách).
Vai trò của phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy được thể hiện một cách xuyên suốt và có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả cai nghiện bền vững. Dịch vụ này giúp tư vấn, tham vấn tạo động lực và giảm thiểu tác hại xuyên suốt quá trình trị liệu, đồng thời hỗ trợ nhân viên chuyên nghiệp tiếp cận đối tượng để thu thập thông tin hoàn cảnh, nhận thức nhằm thiết lập phương án cai nghiện phù hợp. Song song đó, dịch vụ giúp chăm sóc, nâng cao đời sống tâm lý, thể trạng thể chất để giải tỏa sự tự ti, mặc cảm cho người nghiện; hỗ trợ họ vượt qua rào cản tâm lý để chủ động tiếp cận hệ thống dịch vụ xã hội phong phú; và kết nối hiệu quả giúp người nghiện cùng gia đình thụ hưởng đầy đủ các chính sách nhân văn của Nhà nước về cai nghiện tự nguyện. Để đo lường mức độ phát triển này, nghiên cứu thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá dựa trên hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới và Liên Hợp Quốc, phân tách thành 4 dấu hiệu cốt lõi với các chỉ báo cải thiện (+) hoặc suy giảm (-) cụ thể. Bốn dấu hiệu bao gồm: tính sẵn có của các loại hình dịch vụ (số lượng dịch vụ thường kỳ, đột xuất, số lượng nhân viên); chất lượng dịch vụ được cung cấp (cơ sở hạ tầng, phòng chức năng, quy trình kỹ thuật can thiệp, trình độ chuyên môn, thâm niên và mức độ hài lòng); khả năng tiếp cận dịch vụ (khoảng cách giao thông, công suất tiếp nhận thiết kế và thực tế, số lượng người rời cơ sở); và khả năng chi trả phí dịch vụ (tỷ lệ đóng góp của Nhà nước, nhà tài trợ, gia đình và mức chi phí thực tế). Chất lượng dịch vụ cuối cùng được khẳng định qua mức độ hài lòng của khách hàng và sự biến đổi hành vi tích cực của người nghiện sau khi thụ hưởng dịch vụ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy bao gồm cả các khía cạnh chủ quan bên trong và khách quan bên ngoài. Thuộc về bản thân người nghiện là các yếu tố sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần (đặc biệt là tình trạng trầm cảm, hoang tưởng khi sử dụng ma túy tổng hợp tăng cao), cùng trình độ văn hóa và nghề nghiệp. Yếu tố gia đình thể hiện qua mức độ quan tâm, ủng hộ tinh thần và điều kiện kinh tế để đồng hành cùng thân chủ. Về phía cộng đồng và các nhóm xã hội, sự kỳ thị còn phổ biến hay sự đồng cảm của xã hội, cũng như các thông tin và tấm gương vượt khó từ nhóm đồng đẳng, bạn bè có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định tiếp cận dịch vụ của người nghiện. Bản thân các cơ sở cung cấp dịch vụ tác động thông qua điều kiện cơ sở vật chất, sự kín đáo của địa điểm, tính thiết thực của chương trình và sự tinh giản của các thủ tục hành chính khi tiếp nhận. Đội ngũ nhân viên công tác xã hội ảnh hưởng trực tiếp bằng trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ đồng cảm, trách nhiệm khi làm việc. Cuối cùng, yếu tố cơ chế, chính sách đóng vai trò định hướng vĩ mô thông qua nội dung và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính, tiền thuốc cắt cơn, giải độc và chi phí điều trị bệnh cơ hội cho các đối tượng cai nghiện tự nguyện theo quy định của Chính phủ.
Báo cáo cũng tổng hợp kinh nghiệm quốc tế phong phú từ các quốc gia như Thái Lan, Malaysia và Vương quốc Anh để rút ra bài học cho Việt Nam. Tại Thái Lan, vấn nạn ma túy được coi là vấn đề phức tạp cấp quốc gia ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế, chính trị và xã hội. Số liệu thống kê ghi nhận tỷ lệ người nghiện tập trung lớn ở nam giới dưới 30 tuổi, trong đó người lao động có tay nghề và người thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao, chủ yếu sử dụng ma túy tổng hợp Methamphetamine dưới dạng thuốc viên (Yaba) hoặc tinh thể (Đá). Hệ thống điều trị và phục hồi của Thái Lan được xây dựng quy mô với 5.578 cơ sở điều trị, trong đó phần lớn thuộc Bộ Y tế quản lý, trải dài từ các trung tâm chăm sóc y tế ban đầu cấp xã phường đến hệ thống bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh và các Cục chuyên môn về sức khỏe tâm thần, dịch vụ y tế. Kinh nghiệm này cho thấy việc phát triển dịch vụ CTXH hỗ trợ người nghiện cần có sự kết hợp chặt chẽ với mạng lưới y tế công cộng rộng khắp để tăng cường khả năng tiếp cận và bao phủ cho các đối tượng có nhu cầu phục hồi.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy
Thực trạng dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy trước hết được xem xét thông qua vài nét về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng cần hỗ trợ. Khảo sát thực tế được nhóm nghiên cứu tiến hành tại 10 cơ sở cung cấp dịch vụ trên địa bàn 3 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hải Phòng và Thái Bình. Kết quả khảo sát đặc điểm nhân khẩu học của nhóm người nghiện ma túy cho thấy các thông tin cụ thể về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và việc làm trước khi tham gia điều trị. Song song đó, nghiên cứu đã phân tích sâu các nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng ma túy của các đối tượng, trong đó nổi bật là do sự rủ rê, lôi kéo của bạn bè, áp lực tâm lý cá nhân, thiếu kỹ năng sống và sự buông thả của bản thân. Những đặc điểm nền tảng này là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ tương thích và đáp ứng của các dịch vụ công tác xã hội hiện tại đối với nhu cầu thực tế của thân chủ.
Khi đi sâu vào thực trạng phát triển từng mảng dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy, báo cáo đã phản ánh bức tranh thực tế với nhiều kết quả và bất cập đan xen. Đối với thực trạng phát triển dịch vụ tư vấn, tham vấn, hoạt động này đã được triển khai tại các cơ sở nhưng tần suất và tính chuyên sâu chưa cao, việc tư vấn tâm lý và hỗ trợ pháp lý cho người nghiện và gia đình họ còn gặp rào cản do tâm lý mặc cảm và sự thiếu hụt nhân sự chuyên nghiệp. Về thực trạng phát triển dịch vụ chăm sóc, trợ giúp, các cơ sở công lập đã nỗ lực cung cấp các dịch vụ cắt cơn, giải độc và điều trị bệnh lý cơ hội, tuy nhiên điều kiện cơ sở vật chất ở một số nơi còn hạn chế, chưa đáp ứng toàn diện được nhu cầu nâng cao thể trạng và chăm sóc sức khỏe tinh thần lâu dài cho học viên. Thực trạng phát triển các hoạt động hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho thấy đây vẫn là khâu yếu nhất, các chương trình dạy văn hóa, đào tạo kỹ năng sống, hướng nghiệp và dạy nghề chưa có sự gắn kết chặt chẽ với thị trường lao động, dẫn đến việc người sau cai nghiện khó tìm kiếm việc làm ổn định. Đối với thực trạng phát triển dịch vụ kết nối, chuyển tuyến, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ sở y tế, trung tâm cai nghiện và chính quyền địa phương tại xã, phường còn lỏng lẻo, quy trình thủ tục hành chính còn nhiều ràng buộc và chưa có một cơ chế liên thông rõ ràng để quản lý và trợ giúp liên tục cho đối tượng từ tuyến trung tâm trở về cộng đồng.
Nghiên cứu cũng làm rõ những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thực trạng phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy tại các địa bàn khảo sát. Các yếu tố này bao gồm nhận thức và ý chí của chính bản thân người nghiện; sự đồng hành về mặt kinh tế và tinh thần từ phía gia đình; và đặc biệt là thái độ kỳ thị, xa lánh còn khá nặng nề của cộng đồng dân cư xung quanh. Bên cạnh đó, các yếu tố thuộc về hệ thống cung cấp dịch vụ như năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành nghề của đội ngũ nhân viên công tác xã hội còn thiếu và yếu; cơ sở vật chất, trang thiết bị trợ giúp tại các cơ sở chưa đồng bộ; và sự chậm trễ, bất cập trong việc triển khai, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ cai nghiện tự nguyện tại địa phương đã tác động trực tiếp, làm giảm hiệu quả bao phủ và chất lượng của các dịch vụ công tác xã hội trên thực tế.
Đánh giá chung về thực trạng phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy, đề tài đã chỉ rõ những kết quả đạt được cùng các hạn chế căn bản. Về những kết quả đạt được, hệ thống dịch vụ đã từng bước được hình thành và đa dạng hóa với sự tham gia của các cơ sở công lập và cộng đồng, bước đầu đáp ứng được việc tiếp nhận, thực hiện cắt cơn giải độc và tư vấn cơ bản cho một số lượng nhất định người nghiện ma túy. Nhận thức của một bộ phận chính quyền và gia đình về vai trò của các giải pháp tâm lý xã hội đã có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, những hạn chế còn tồn tại là rất lớn: mạng lưới dịch vụ phát triển chưa đồng bộ, phân bổ chưa đều và chủ yếu mang tính thí điểm; chất lượng dịch vụ tư vấn, trị liệu chuyên sâu và kết nối chuyển tuyến còn thấp; công tác hỗ trợ hòa nhập, hướng nghiệp và tạo việc làm sau cai nghiện chưa đạt hiệu quả bền vững; đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp thiếu hụt trầm trọng về cả số lượng lẫn kỹ năng thực hành chuyên sâu; đồng thời thủ tục hồ sơ còn phức tạp và rào cản kỳ thị từ xã hội vẫn là những thách thức cốt lõi chưa được giải quyết triệt để.
Chương 3: Các giải pháp phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy
Để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống dịch vụ, nhóm các giải pháp hoàn thiện về khung chính sách được đề xuất đóng vai trò định hướng vĩ mô. Giải pháp đầu tiên là xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ báo đánh giá và xác định rõ ràng đối tượng nghiện ma túy làm cơ sở khoa học cho việc phân loại và áp dụng phác đồ can thiệp phù hợp. Thứ hai, Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ kinh phí sử dụng các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy, bảo đảm nguồn ngân sách ổn định để chi trả cho tiền thuốc cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần và hỗ trợ chi phí sàng lọc cho các đối tượng yếu thế. Thứ ba, cần tiến hành cải cách sâu rộng các quy định về dịch vụ vay vốn, tạo việc làm cho người cai nghiện và sau cai nghiện ma túy thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, nới lỏng các điều kiện ràng buộc hành chính và mở rộng cơ chế ủy thác qua các ngân hàng khác. Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực nhằm thực hiện tốt dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người cai nghiện tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia tài trợ và cung cấp dịch vụ của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội và các doanh nghiệp tư nhân.
Nhóm giải pháp đối với các trung tâm, cơ sở điều trị nghiện nhằm phát triển dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy tập trung vào việc nâng cao nội lực và chất lượng cung ứng tại chỗ. Các cơ sở cần chủ động cải thiện cơ sở vật chất của trung tâm, cơ sở điều trị nghiện ma túy, xây dựng và nâng cấp các phòng chức năng bảo đảm không gian thoáng mát, kín đáo, trang bị đầy đủ các thiết bị hỗ trợ kỹ thuật can thiệp tiên tiến. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực của nhân viên công tác xã hội trợ giúp người nghiện ma túy là then chốt, thông qua tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên sâu về tâm lý học hành vi, quản lý trường hợp và kỹ năng giao tiếp, am hiểu đặc thù đối tượng. Đồng thời, cần tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy tại Tổ công tác cai nghiện ma túy, Đội công tác xã hội tình nguyện, Điểm tư vấn, Trung tâm Công tác xã hội, và các đơn vị tổ chức điều trị bằng chất thay thế Methadone nhằm tối ưu hóa quy trình tiếp nhận, đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch trợ giúp và tư vấn tuân thủ điều trị liên tục.
Nhóm giải pháp đối với cộng đồng, các tổ chức xã hội nhằm phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy hướng tới việc xây dựng môi trường xã hội thân thiện và đồng thuận. Giải pháp quan trọng là tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức của gia đình người nghiện ma túy và cộng đồng về vấn đề công tác xã hội và các dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy, nhằm giảm thiểu sự kỳ thị, xa lánh, khơi dậy tinh thần đồng cảm, tương thân tương ái. Song song đó, các địa phương cần tích cực phát triển cả về quy mô và chất lượng đội ngũ nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên cộng đồng trợ giúp người nghiện ma túy tại địa phương để kịp thời tiếp cận, tư vấn và hỗ trợ thân chủ ngay tại địa bàn cư trú. Ngoài ra, cần phát huy tối đa vai trò của các tổ chức, đoàn thể ở địa phương như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh trong việc lập các câu lạc bộ dựa vào cộng đồng, câu lạc bộ đồng đẳng để giám sát, giúp đỡ người sau cai nghiện phòng tránh nguy cơ tái nghiện.
Nhóm giải pháp đối với người nghiện ma túy và gia đình có người nghiện nhằm phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy nhấn mạnh vào việc phát huy nội lực từ nội bộ gia đình và bản thân thân chủ. Đối với gia đình có người nghiện ma túy, các thành viên cần được trang bị kiến thức để xóa bỏ mặc cảm, tích cực quan tâm, động viên, ủng hộ tinh thần và hỗ trợ kinh phí, đồng thời chủ động kết nối với nhân viên CTXH để phối hợp thực hiện phác đồ điều trị, xây dựng môi trường giao tiếp lành mạnh giúp người nghiện tái dựng lại cuộc sống không ma túy. Đối với bản thân người nghiện ma túy, giải pháp cốt lõi là giáo dục nâng cao nhận thức về tác hại của ma túy, khơi dậy ý chí, nghị lực và sự quyết tâm tự nguyện tham gia cai nghiện; rèn luyện các kỹ năng sống, kỹ năng kiểm soát hành vi để vượt qua các cú sốc tâm lý và sự cám dỗ; chủ động phối hợp với cán bộ y tế, nhân viên tư vấn để tuân thủ tiến trình trị liệu, học văn hóa, học nghề và tự tạo cơ hội việc làm để hòa nhập cộng đồng bền vững.
Cuối cùng, đề tài thiết lập các điều kiện và lộ trình thực hiện cụ thể để bảo đảm tính khả thi của các giải pháp. Về điều kiện thực hiện, đòi hỏi phải có sự cam kết chính trị mạnh mẽ từ chính quyền các cấp; sự hoàn thiện và đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật về cai nghiện và an sinh xã hội; nguồn lực tài chính được phân bổ đầy đủ từ ngân sách nhà nước kết hợp xã hội hóa; và một hệ thống cơ sở hạ tầng y tế - xã hội liên thông cùng đội ngũ nhân sự được đào tạo bài bản chuyên môn. Về lộ trình thực hiện, các giải pháp được phân kỳ theo các giai đoạn cụ thể từ ngắn hạn đến dài hạn, bắt đầu bằng việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cấp thí điểm cơ sở vật chất và đào tạo nhân lực, sau đó tiến tới mở rộng quy mô, bao phủ mạng lưới dịch vụ CTXH đồng bộ trên phạm vi cả nước và hoàn thiện cơ chế kết nối chuyển tuyến toàn diện, bảo đảm an ninh và phúc lợi xã hội.
Thành viên đề tài:
ThS. Đỗ Thị Ngọc Bích; Th.S Phạm Hồng Trang; Th.S Nguyễn Thị Liên; TS. Quách Thu Quế; Th.S Phan Đình Thư; Th.S Hán Đình Hòe; Th.S Nguyễn Trung Hải
Từ khóa:
Công tác xã hội Ma túy Dịch vụ Nghiện ma túy