Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở Việt Nam
Chủ nhiệm:
TS. Bùi Sỹ Tuấn
Năm đăng ký:
2018
Năm nghiệm thu:
2018
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Già hoá dân số là xu hướng chung trên phạm vi toàn cầu và đó cũng là vấn đề lớn trong xã hội hiện đại. Vấn đề già hoá dân số có tính đặc thù bởi vì không thể đưa ra các giải pháp để giảm số người cao tuổi (NCT) mà chỉ có thể đưa ra những giải pháp, can thiệp sớm để vấn đề già hoá không là cản trở cho phát triển xã hội. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thức được rằng già hoá dân số là xu hướng không thể đảo ngược này và cần có những chính sách, giải pháp phù hợp với vấn đề đặc thù này.
Việt Nam không nằm ngoài xu hướng chung đó. Do tác động của quá trình phát triển kinh tế xã hội và những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong y tế, chăm sóc sức khoẻ nên tuổi thọ của người dân ngày càng cao. Đến năm 2016, tuổi trọ trung bình của Việt Nam là 73,4 tuổi. Tỷ lệ NCT cũng tăng lên nhanh chóng và đạt 11,95% tổng dân số vào năm 2018, trong đó có khoảng hai triệu người từ 80 tuổi trở lên. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, đến năm 2030, tỷ lệ dân số trên 65 tuổi của Việt Nam sẽ vào khoảng 12,9% và năm 2050 là 23% .
Mặc dù tuổi thọ trung bình của NCT Việt Nam tương đối cao nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp, sức khỏe yếu. Mặc dù có tuổi thọ trung bình khá cao nhưng tuổi thọ khỏe mạnh của người cao tuổi lại khá thấp (chỉ khoảng 64 tuổi); đặc biệt, có 67,2% người cao tuổi có tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu, nhiều người mắc bệnh nan y… Khoảng 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền, trung bình 1 người cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh. Trong khi đó, cả nước hiện có 50 bệnh viện cấp trung ương và cấp tỉnh có khoa Lão khoa; 302 khoa khám bệnh có buồng khám riêng hoặc bố trí bàn khám riêng cho NCT; 37.622 giường điều trị nội trú ưu tiên cho NCT; 2.522 nhân viên y tế được đào tạo về lão khoa, đáp ứng nhu cầu chăm sóc NCT.
Năm 2018, cả nước có khoảng 11,3 triệu NCT, trong đó khoảng 4,59 triệu người (gồm 1,73 triệu nhận trợ giúp xã hội hàng tháng; 2,24 triệu hưởng lương hưu và 620 ngàn hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng). Như vậy, vẫn còn khoảng 60% NCT ở Việt Nam chưa được hưởng bất cứ chế độ trợ cấp hàng tháng nào từ các chính sách xã hội của Nhà nước.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai công tác NCT của một số bộ, ngành, địa phương còn hạn chế về nhận thức. Mức trợ cấp dành cho NCT chưa đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống, một bộ phận phải lao động kiếm sống, ở trong nhà tạm. Đặc biệt ở vùng khó khó khăn, dân tộc thiểu số, NCT có tuổi thọ thấp nên số lượng người được hưởng chính sách trợ cấp xã hội còn ít. Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực NCT còn gặp nhiều khó khăn, nhất là chính sách, cơ chế khuyến khích tư nhân đầu tư các cơ sở chăm sóc NCT.
Trong bối cảnh đó việc thực hiện “Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho NCT ở Việt Nam” là cần thiết nhằm cung cấp một bức tranh tổng quan trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, nhu cầu và tính cấp thiết của việc xây dựng và phát triển các mô hình chăm sóc dài hạn cho NCT, nâng cao hiệu quả của việc chăm sóc NCT nói riêng và an sinh xã hội nói chung.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc triển khai các mô hình chăm sóc dài hạn cho NCT ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình chăm sóc dài hạn cho NCT;
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về mô hình chăm sóc dài hạn và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Đánh giá nhu cầu chăm sóc ở NCT và phát triển mô hình chăm sóc dài hạn cho NCT;
- Đề xuất mô hình chăm sóc dài hạn cho NCT.
3. Kết cấu của đề tài
Nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở việt nam và một số mô hình điển hình đang triển khai
Chương 3: Khuyến nghị giải pháp phát triển mô hình chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi
Nội dung chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng, bản chất và chức năng của mô hình CSDH. Theo Luật NCT 2009 tại Việt Nam, NCT là công dân từ đủ 60 tuổi trở lên. Khái niệm CSDH được đề tài thống nhất sử dụng theo Tổ chức hỗ trợ NCT quốc tế (HAI), quy định đó là một loạt dịch vụ cần thiết cho người suy giảm chức năng hoạt động, thể chất hay nhận thức nhằm hỗ trợ các sinh hoạt hàng ngày (ADL) và có thể được cung cấp chính thức hoặc phi chính thức tại nhà, cộng đồng hoặc các cơ sở tập trung. Bản chất của CSDH bao gồm ba thành tố cốt lõi là tự chăm sóc, chăm sóc của gia đình và chăm sóc của bên thứ ba nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về sức khỏe, vật chất và tinh thần của NCT. Khung lý thuyết của đề tài chỉ ra các yếu tố chủ quan (nhu cầu, nguồn lực) và khách quan (kinh tế - xã hội, thể chế pháp lý) có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng phát triển dịch vụ CSDH. Hệ thống tiêu chí rà soát chất lượng mô hình được xây dựng dựa trên loại hình, cơ sở pháp lý, nguồn lực thực hiện (nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất), dịch vụ cung cấp và kết quả thực hiện. Khi phân tích kinh nghiệm quốc tế, đề tài chỉ ra các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan chủ yếu chú trọng mô hình dựa vào gia đình và cộng đồng để tiết kiệm chi phí, trong khi các nước phát triển như Nhật Bản tiến mạnh lên chuyên môn hóa cao thông qua Bảo hiểm chăm sóc dài hạn (LTCI) bắt buộc cho người từ 40 tuổi trở lên. Bài học rút ra cho Việt Nam là cần học hỏi phương thức vận hành tối ưu nguồn lực và thiết lập cơ chế đồng bộ thích ứng với bối cảnh già hóa nhanh khi tiềm lực kinh tế quốc gia còn hạn chế.
Chương 2: Thực trạng chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở việt nam và một số mô hình điển hình đang triển khai
Chương này đi sâu phân tích toàn diện thực trạng CSDH tại Việt Nam dựa trên khung khổ pháp luật hiện hành và các số liệu khảo sát thực tế. Hệ thống luật pháp chính sách như Hiến pháp 2013, Luật NCT 2009, Luật Bảo hiểm y tế đã tạo hành lang pháp lý bảo vệ NCT, tuy nhiên khái niệm CSDH chính thống vẫn chưa được định danh rõ ràng trong các văn bản dưới luật. Thực tế nhân khẩu học tại Việt Nam cho thấy xu hướng "nữ hóa dân số cao tuổi" và gần 2/3 NCT sống ở nông thôn, nguồn thu nhập phụ thuộc lớn vào con cái hoặc phải tiếp tục lao động tự túc. Sức khỏe của NCT rất đáng báo động với khoảng 95% có bệnh mạn tính, nhưng chỉ có khoảng 10% NCT có hồ sơ quản lý sức khỏe. Về các mô hình đang triển khai, chăm sóc dựa vào gia đình là phổ biến nhất (với gần 70% NCT sống cùng con cái) nhưng đang bị thách thức lớn bởi quy mô gia đình thu hẹp và người chăm sóc thiếu kỹ năng. Đối với mô hình tại cộng đồng, nước ta ghi nhận một số hình thức điển hình như: Mô hình tình nguyện viên chăm sóc tại nhà (ít tốn kém nhưng thiếu bền vững khi hết dự án tài trợ); Mô hình câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau (đáp ứng tốt cả việc tăng thu nhập và chăm sóc sức khỏe toàn diện, được thí điểm thêm dịch vụ trợ lý chăm sóc tại nhà có trả công); Mô hình tư vấn, chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng của Tổng cục Dân số-KHHGĐ (mang tính hỗ trợ tạm thời và phụ thuộc kinh phí mục tiêu quốc gia). Đối với mô hình tại cơ sở chăm sóc, báo cáo đánh giá hệ thống Trung tâm bảo trợ xã hội (BTXH) công lập (nhà nước nuôi dưỡng các đối tượng yếu thế, không nơi nương tựa theo mức chuẩn Nghị định 136/2013/NĐ-CP) và các cơ sở ngoài công lập/tư nhân (hoạt động tự nguyện theo cơ chế thị trường, tập trung ở đô thị lớn). Đánh giá chung cho thấy các mô hình đã đạt một số thành công nhất định trong việc ổn định cuộc sống cho NCT, nhưng vẫn vấp phải nhiều khó khăn do nguồn kinh phí hạn chế, mức trợ cấp chuẩn 270.000 đồng còn thấp, cơ sở vật chất thiếu thốn và đặc biệt là sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ nhân viên chăm sóc, nhân viên công tác xã hội có trình độ chuyên môn sâu.
Chương 3: Khuyến nghị giải pháp phát triển mô hình chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi
Trên cơ sở phân tích thực trạng, chương cuối cùng của đề tài đề xuất bối cảnh, quan điểm, mô hình và các giải pháp thực thi mang tính chiến lược. Đề tài khẳng định quan điểm phát triển hệ thống CSDH phải đa dạng, toàn diện cả về vật chất lẫn tinh thần, có tính chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, xã hội và người dân, đồng thời phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Mô hình đề xuất hướng tới cấu trúc kết hợp hài hòa: lấy chăm sóc tại gia đình và cộng đồng làm nền tảng cốt lõi cho đa số NCT, đồng thời phát triển các cơ sở chăm sóc tập trung chuyên nghiệp cho những trường hợp suy giảm chức năng nặng hoặc có nhu cầu tự nguyện. Nhóm giải pháp trọng tâm bao gồm việc nâng cao nhận thức xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa khuyến khích tư nhân đầu tư, đào tạo bài bản nguồn nhân lực y tế lão khoa và nhân viên công tác xã hội, đồng thời nghiên cứu xây dựng các gói dịch vụ và tiến tới phát triển bảo hiểm CSDH. Lộ trình thực hiện được chia làm hai giai đoạn rõ rệt: Giai đoạn thứ nhất tập trung vào hoàn thiện thể chế pháp luật về CSDH, thống nhất thuật ngữ và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật; Giai đoạn thứ hai ưu tiên tập trung các nguồn lực tài chính, hạ tầng kỹ thuật dành cho công tác NCT để đảm bảo triển khai đồng bộ, hiệu quả và bền vững các mô hình trên phạm vi cả nước.
Thành viên đề tài:
Từ khóa:
Người cao tuổi Việt Nam Dịch vụ Mô hình dịch vụ Chăm sóc Dài hạn