Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng

Năm đăng ký: 2014

Năm nghiệm thu: 2015

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Nền giáo dục Việt Nam trong ba thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh những thành tựu, GD-ĐT ở nước ta đang bộc lộ nhiều yếu kém, thậm trí có những khuyết điểm kéo dài. So với tình hình chung trên thế giới, nền giáo dục ở nước ta còn lạc hậu, chậm đổi mới, chất lượng thấp, chưa phát huy cao được năng lực sáng tạo của người học; thể chế, cơ chế quản lý phát triển giáo dục còn nhiều bất cập, còn có nhiều tiêu cực. Tất cả những khuyết điểm trong GD-ĐT đã dẫn đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực thấp kém không đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Bước sang thế kỷ XXI, giáo dục ở nước ta đang phải đối mặt với những thời cơ và thách thức của thời đại, những đòi hỏi ngày càng cao đối với nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Điều này đã được Đảng chỉ ra trong các Văn kiện của Trung ương từ đại hội Đảng IX, X, XI.

Trong những năm gần đây, cơ cấu NNL ở nước ta ngày càng bất hợp lý, số người có trình độ cử nhân chiếm tỷ lệ quá cao, trong khi số có trình độ trung cấp và sơ cấp chiếm tỷ lệ quá thấp, không phù hợp với nhu cầu và yêu cầu về nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Nguyên nhân của sự mất cân đối nghiêm trọng về nguồn nhân lực là do trong suốt gần hai mươi năm qua, công tác phân luồng học sinh sau trung học đi học nghề thực hiện chưa tốt. Hậu quả là một số lượng lớn thanh niên đến tuổi lao động chưa được đào tạo nghề kể cả học văn hóa nên tạo ra sự lãng phí lớn cho xã hội và tác động đến tính hiệu quả của hệ thống giáo dục và đào tạo. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng NNL của Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước Châu Á tham gia xếp hạng.

Kể từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để thực hiện công tác phân luồng học sinh, từ việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho toàn xã hội, giáo dục hướng nghiệp, xây dựng chính sách đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp với giáo dục đại học, cho đến việc phát triển mạng lưới giáo dục nghề nghiệp để thực hiện mục tiêu của các chiến lược phát triển nguồn nhân lực và giáo dục giai đoạn 2011–2020.

Trong khi nhiều địa phương đang lúng túng trong công tác phân luồng, thì một số nơi đã làm khá tốt công tác này. Những địa phương làm tốt công tác phân luồng học sinh sau trung học vẫn chưa được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để đề xuất những giải pháp tổng thể, khả thi nhân rộng ra toàn quốc. Xuất phát từ nhu cầu phát triển NNL đáp ứng yêu cầu xã hội và khắc phục những yếu kém trong công tác phân luồng học sinh sau trung học, chúng tôi lựa chọn đề tài "Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông" để nghiên cứu. Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để tham mưu với Trung ương chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt hơn nữa Chỉ thị số 10 CT/TW, ngày 05/12/2011 về tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, góp phần thiết thực triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp thiết thực, khả thi nhằm đẩy mạnh công tác phân luồng học nghề sau THCS và THPT.

3. Kết cấu của đề tài

Gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Chương 2: Thực trạng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Chương 3: Một số giải pháp phân luồng học sinh sau THCS và THPT vào học nghề.

4. Nội dung chính của đề tài

          4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm cơ bản làm nền tảng lý luận cho đề tài, bao gồm: hệ thống giáo dục quốc dân, phân luồng, nghề và nghề nghiệp, hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp. Theo đó, phân luồng học sinh được hiểu là tạo ra các con đường và định hướng cho học sinh sau khi tốt nghiệp một cấp, bậc học nào đó có thể lựa chọn con đường phù hợp để học tiếp hoặc tham gia lao động; đây là việc quy hoạch phát triển giáo dục theo các hướng khác nhau của toàn hệ thống giáo dục sau cấp học phổ cập bắt buộc để định hướng cho việc phát triển nhân lực quốc gia.

Chương 1 phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới phân luồng học sinh sau trung học, bao gồm: tiến bộ khoa học công nghệ và ICT, quá trình toàn cầu hóa, môi trường kinh tế - xã hội, cùng với những vấn đề nội tại của hệ thống giáo dục như cơ cấu hệ thống giáo dục, chương trình đào tạo, công tác hướng nghiệp và đặc điểm tâm lý xã hội của người học và gia đình. Đề tài xây dựng khung lý thuyết về phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông dựa trên các yếu tố cung – cầu nhân lực, chính sách giáo dục và nhận thức xã hội.

Đề tài đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của một số nước phát triển (OECD) và các nước trong khu vực về phân luồng học nghề, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. Điểm đáng chú ý là các nước có nền công nghiệp phát triển đều xây dựng hệ thống giáo dục mở, linh hoạt với các cơ chế liên thông chặt chẽ, đầu tư mạnh vào hướng nghiệp từ cấp phổ thông, gắn đào tạo nghề với thị trường lao động và nhu cầu của doanh nghiệp.

          4.2. Chương 2: Thực trạng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Chương 2 phân tích những bất cập về cơ chế, chính sách đối với công tác phân luồng. Mặc dù từ Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đến Chỉ thị số 10-CT/TW và Nghị quyết số 29-NQ/TW đều nhấn mạnh yêu cầu phân luồng học sinh sau trung học, song việc triển khai trong thực tế còn nhiều bất cập về cơ chế, chính sách; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ; cơ cấu hệ thống giáo dục chưa hợp lý; thiếu chính sách đủ mạnh để khuyến khích học sinh và gia đình lựa chọn học nghề.

Về thực trạng nguồn nhân lực, đề tài cho thấy cơ cấu NNL Việt Nam đang rất bất hợp lý: năm 2012, tỷ lệ đại học/TCCN/CNKT là 1/0,43/0,56, trong khi các nước công nghiệp hóa cần tỷ lệ 1/4/10. Số người có trình độ đại học và thạc sĩ thất nghiệp cao (174 nghìn người năm 2014), trong khi các cơ sở dạy nghề thiếu người học nghiêm trọng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ngắn hạn vẫn chiếm gần 84%, lao động không có trình độ CMKT chiếm 82,7% lực lượng lao động.

Về thực trạng phân luồng, số liệu thống kê cho thấy: tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT tăng từ 70,7% (năm học 2007–2008) lên 80,4% (năm học 2011–2012); chỉ khoảng 2–4% học sinh tốt nghiệp THCS vào học nghề và TCCN; hơn 2/3 học sinh lớp 10 đăng ký ban khoa học tự nhiên để thi đại học; khoảng 80–90% học sinh tốt nghiệp THPT tham gia thi đại học, cao đẳng, trong khi chỉ 8–9% học nghề. Trong 5 năm gần đây, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT vào đại học, cao đẳng luôn đạt xấp xỉ 50–61% tổng số thí sinh đăng ký dự thi.

Về thực trạng công tác dạy nghề, từ khi tái lập Tổng cục Dạy nghề (1998), hệ thống cơ sở dạy nghề đã phát triển mạnh về quy mô. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo nghề còn thấp, chương trình đào tạo lạc hậu và chưa gắn với nhu cầu doanh nghiệp; cơ sở vật chất phân bố không đều; đội ngũ giáo viên dạy nghề còn thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn; cơ chế liên thông từ TCCN/TCN lên CĐ, ĐH còn nhiều khó khăn. Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phân luồng kém hiệu quả gồm: nhận thức xã hội chưa đúng hướng, tâm lý chuộng bằng cấp; công tác hướng nghiệp yếu; người tốt nghiệp nghề khó tìm việc làm; nhiều nhà tuyển dụng yêu cầu bằng tốt nghiệp THPT; hệ thống giáo dục chưa linh hoạt.

          4.3. Chương 3: Một số giải pháp phân luồng học sinh sau THCS và THPT vào học nghề

Chương 3 trình bày quan điểm, định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016–2020 và tầm nhìn 2030 dựa trên các văn kiện của Đảng (Chỉ thị số 10-CT/TW, Nghị quyết số 29-NQ/TW) và Quyết định số 630/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011–2020. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 30% học sinh sau khi tốt nghiệp THCS đi học nghề; đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55%, tương đương 34,4 triệu người.

Đề tài xác định các nguyên tắc khi thực hiện phân luồng, bao gồm: tự nguyện (không dùng mệnh lệnh hành chính ép buộc), phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của học sinh, gắn với nhu cầu nhân lực xã hội, bảo đảm liên thông và cơ hội phát triển tiếp theo cho người học. Đồng thời xác định các nội dung phân luồng học nghề sau THCS và THPT cần được triển khai đồng bộ ở các cấp từ vĩ mô (quốc gia) đến vi mô (cơ sở giáo dục và gia đình).

Các giải pháp trọng tâm được đề xuất bao gồm:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về phân luồng và học nghề, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các tổ chức đoàn thể, phương tiện truyền thông.

Hai là, hoàn thiện cơ chế chính sách, trong đó ưu tiên đổi mới chính sách khuyến khích người học, người dạy và người sử dụng lao động đối với học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề; cải cách chế độ tiền lương khởi điểm cho người có trình độ TCCN, TCN tương đối ngang bằng với lương khởi điểm của kỹ sư; Chính phủ có quy định về tỷ lệ học sinh vào học THPT.

Ba là, đổi mới chương trình đào tạo nghề theo hướng chuyển từ đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu người học và yêu cầu thị trường lao động; tích hợp lý thuyết với thực hành; thống nhất và mềm hóa chương trình; bảo đảm liên thông giữa các trình độ đào tạo.

Bốn là, đổi mới công tác tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông: đào tạo chuyên nghiệp giáo viên hướng nghiệp, có biên chế chính thức; các cơ sở đào tạo nghề chủ động phối hợp với doanh nghiệp tham gia hướng nghiệp; quy hoạch và mở rộng mạng lưới trung tâm hướng nghiệp.

Năm là, quy hoạch lại hệ thống giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo nghề; đóng cửa các cơ sở đào tạo chất lượng thấp; kiện toàn và hợp nhất các trung tâm dạy nghề, GDTX, kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp; phát triển mạng lưới trường TCN cấp huyện ở những nơi có điều kiện.

Sáu là, tăng cường đầu tư, huy động nguồn lực xã hội; ưu tiên đào tạo NNL ở vùng khó khăn; có chính sách hỗ trợ các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thành lập trung tâm đào tạo nghề; thực hiện cơ chế đặt hàng và cơ chế Nhà nước đặt hàng đào tạo.

Bảy là, tăng cường công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống thông tin lao động toàn quốc; xây dựng lộ trình giảm chỉ tiêu tuyển sinh vào đại học, cao đẳng đối với những ngành đã thừa nhân lực; chú trọng giải quyết việc làm cho người qua đào tạo đang thất nghiệp.

Về tổ chức thực hiện, đề tài nhấn mạnh phân luồng học sinh sau trung học là vấn đề xã hội cần thực hiện đồng bộ từ bình diện vĩ mô đến vi mô, cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội theo nguyên tắc 3P (Partnership – Participation – Performance). Các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp phải đưa công tác phân luồng vào chỉ tiêu thi đua hằng năm; ngành giáo dục đóng vai trò nòng cốt trong phối hợp liên ngành.

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Quang Việt, Phó Viện trưởng Viện NCKHDN; ThS. Lê Thị Mai Hoa, Ban Tuyên giáo Trung ương; PGS.TS. Mạc Văn Tiến, Viện trưởng Viện NCKHDN; ThS. Mai Phương Bằng, Trưởng phòng, Viện NCKHDN; PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí, Ban Tuyên giáo Trung ương; TS. Đào Nguyên Phúc, Ban Tuyên giáo Trung ương

Từ khóa: Phân luồng học sinh học nghề giáo dục nghề nghiệp hướng nghiệp nguồn nhân lực Việt Nam trung học cơ sở trung học phổ thông

Tên file View
CB2014-04-35bs.pdf Đăng nhập để xem
Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hồng Minh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Tiêu Thị Minh Hường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thế Huệ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: KS. Phan Đăng Thọ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tiếp cận khung đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN-QA)

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Thanh Hà

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |