Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Năm đăng ký: 2013

Năm nghiệm thu: 2014

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước và cũng là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung và bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng. Người chưa thành niên vi phạm pháp luật là một chủ thể hết sức đặc biệt, các em vừa là đối tượng vi phạm pháp luật, vừa là nạn nhân của sự thiếu giáo dục, chăm sóc của gia đình, nhà trường và xã hội. Đa số người chưa thành niên vi phạm pháp luật đều có tâm lý khác biệt so với trẻ thông thường. Trong tâm lý các em vẫn còn mặc cảm mình là người phạm pháp, vì vậy, các em tự ti, xa lánh cộng đồng, mặc cảm, buồn chán, nản chí, dễ nảy sinh tiêu cực. Do đó, tái hòa nhập các em về với cộng đồng chính là quá trình tiếp tục giáo dục để các em bình thường hóa toàn bộ cuộc sống tâm lý, là sự kích thích phát triển những nhân tố tích cực trong nhân cách của trẻ.

Việt Nam là nước đầu tiên của châu Á và là nước thứ 2 trên thế giới tham gia ký kết và phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định về tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật đã nảy sinh nhiều vướng mắc và bất cập, số người chưa thành niên vi phạm pháp luật tái phạm còn khá cao. Từ những quy định của pháp luật và thực tiễn như trên, việc nghiên cứu làm rõ về mặt cơ sở lý luận - thực tiễn và các giải pháp để tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật là việc làm có ý nghĩa quan trọng và hết sức cần thiết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở Việt Nam, đề tài đi vào nghiên cứu những kinh nghiệm của quốc tế, pháp luật trong nước qua đó bổ sung, làm rõ những bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, những quy định đã hoặc chưa phù hợp với luật pháp quốc tế để đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, đưa ra các giải pháp hữu hiệu để tái hòa nhập cộng đồng của người chưa thành niên vi phạm pháp luật giúp các em có thể xóa đi mặc cảm về lỗi lầm của mình và tạo niềm tin với những người xung quanh. Việc Nhà nước có chính sách phù hợp, hỗ trợ cho các em vượt qua những khó khăn, trở ngại, sớm trở lại với cuộc sống cộng đồng và để phòng ngừa việc các em tái phạm là hết sức quan trọng, mà một trong những chính sách đó là tái hòa nhập xã hội cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật sau khi các em ra khỏi trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và một số mô hình về tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Chương 3: Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1 – Cơ sở lý luận và một số mô hình quốc tế về tái hòa nhập cộng đồng

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên (NCTN) vi phạm pháp luật từ hai nguồn: pháp luật quốc tế và chính sách, pháp luật Việt Nam. Về pháp luật quốc tế, đề tài phân tích các chuẩn mực quốc tế nổi bật, bao gồm Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (CRC), Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh 1985), Hướng dẫn Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN (Hướng dẫn Riát 1990) và Quy tắc bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do (Quy tắc 1991). Đề tài đặc biệt chú trọng sáu nguyên tắc cơ bản: vì lợi ích tốt nhất của NCTN; không phân biệt đối xử; tôn trọng quyền của NCTN; bảo đảm sự tham gia của NCTN; tính tương xứng của biện pháp xử lý; và chuyên môn hóa kết hợp phối hợp liên ngành.

Về chính sách, pháp luật Việt Nam, đề tài phân tích hệ thống văn bản pháp luật theo bốn nhóm: (i) văn bản về bảo vệ trẻ em nói chung; (ii) văn bản về chế tài và thủ tục xử lý NCTN vi phạm pháp luật; (iii) văn bản về thi hành chế tài; và (iv) các chương trình, đề án quốc gia phòng chống tội phạm. Đề tài cũng xây dựng khung khái niệm về tái hòa nhập cộng đồng, xác định mục tiêu và ý nghĩa của quá trình này. Phần cuối chương giới thiệu và phân tích bốn mô hình quốc tế tiêu biểu: Kế hoạch tăng cường sức mạnh cho thanh niên (Nam Phi); Chương trình Thiếu niên sống tự lập R.A.I.L.S. (New South Wales, Úc); Chương trình Sự khởi đầu mới (Maryland, Mỹ); và Dự án Balay Pasilungan (Philippines). Từ đó, đề tài rút ra kinh nghiệm về hai giai đoạn tái hòa nhập: chuẩn bị tái hòa nhập ngay từ khi NCTN đang ở trường giáo dưỡng, trại giam; và hỗ trợ tái hòa nhập tại cộng đồng sau khi được trả tự do.

4.2. Chương 2 – Thực trạng pháp luật Việt Nam về tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Phân tích thực trạng tái hòa nhập cộng đồng từ ba góc độ: học sinh trường giáo dưỡng, phạm nhân là NCTN ở trại giam, và NCTN vi phạm pháp luật tại cộng đồng. Số liệu cho thấy tỷ lệ NCTN vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự tăng từ 23,9% năm 2006 lên 30,9% năm 2010; hàng năm có khoảng 12.000 đến 18.000 NCTN vi phạm pháp luật, tỷ lệ tái phạm chiếm tới 35,3%. Kết quả khảo sát cho thấy nhiều trường giáo dưỡng mới chỉ tổ chức học văn hóa đến lớp 9; dịch vụ tham vấn tâm lý còn thiếu; phạm nhân NCTN trong trại giam chưa được chuẩn bị tâm lý đầy đủ; việc lập kế hoạch tái hòa nhập cụ thể còn rất hạn chế.

Đề tài đánh giá pháp luật Việt Nam về tái hòa nhập cộng đồng theo hai giai đoạn: khi NCTN đang ở trường giáo dưỡng/trại giam và khi NCTN trở về cộng đồng. Qua phân tích Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đề tài chỉ ra rằng: các quy định hiện hành chủ yếu tập trung vào giai đoạn chuẩn bị trước khi trả tự do, chưa có chương trình cụ thể hỗ trợ NCTN tái hòa nhập sau khi đã trở về cộng đồng; thiếu cơ chế phối hợp rõ ràng giữa trường giáo dưỡng/cơ sở giam giữ với tổ chức xã hội và đoàn thể tại cộng đồng; chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về tái hòa nhập đối với NCTN bị xử lý hành chính sau khi về từ trường giáo dưỡng. Đề tài cũng ghi nhận một số mô hình thực tiễn có hiệu quả cần được nhân rộng như: Câu lạc bộ Ông - Bà - Cháu; mô hình tại phường Nguyễn Du (Nam Định) và phường Trại Cau (Hải Phòng); mô hình tại phường 4, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

4.3. Chương 3 – Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Đề xuất hai nhóm giải pháp chính. Nhóm thứ nhất là hoàn thiện pháp luật, bao gồm: (1) sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật hình sự, xác định rõ cơ chế phối hợp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ quá trình từ trước, trong và sau giam giữ; (2) sửa đổi chính sách pháp luật về trẻ em, bổ sung quy trình phát hiện và can thiệp khi trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; (3) xây dựng mô hình xử lý chuyển hướng, thiết lập tòa án trẻ em với thẩm phán chuyên trách; (4) phát triển chính sách về các dịch vụ tái hòa nhập cộng đồng (hỗ trợ tâm lý xã hội, pháp lý, y tế, học nghề, việc làm); (5) xây dựng chính sách pháp luật về công tác xã hội, nâng cao vai trò của cán bộ xã hội; (6) ban hành chính sách về học tập, vui chơi, giải trí, thể dục thể thao cho NCTN; (7) xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về NCTN vi phạm pháp luật.

Nhóm thứ hai là giải pháp phòng ngừa về mặt xã hội, bao gồm tám giải pháp cụ thể: (1) lập kế hoạch chuẩn bị tái hòa nhập từ khi NCTN đang ở trường giáo dưỡng, trại giam thông qua đánh giá nguy cơ và nhu cầu toàn diện; (2) duy trì mối liên hệ thường xuyên của NCTN với gia đình trong thời gian ở cơ sở tập trung; (3) tổ chức các hoạt động thăm hỏi tự nguyện và giao lưu với bạn bè đồng lứa ngoài cộng đồng; (4) áp dụng các chương trình cho phép tự do tạm thời đối với NCTN chấp hành tốt nội quy; (5) tổ chức buổi lễ "tốt nghiệp" trước khi NCTN được trả tự do để tạo sự chấp nhận của gia đình và cộng đồng; (6) xây dựng các cơ sở trung chuyển để NCTN thích nghi dần với cuộc sống cộng đồng trước khi trở về hoàn toàn; (7) triển khai các chương trình chăm sóc tiếp theo theo mô hình phụ trách vụ việc trong giai đoạn ngay sau khi được trả tự do; (8) tăng cường vai trò của gia đình, nhà trường và phối hợp liên ngành trong phòng ngừa và hỗ trợ NCTN tái hòa nhập cộng đồng.

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Yến; ThS. Đặng Thanh Hương; ThS. Nguyễn Đồng Luyện; ThS. Vũ Văn Hải; CN. Nguyễn Quang Toàn; CN. Bùi Thị Chuyên.

Từ khóa: Tái hòa nhập cộng đồng Người chưa thành niên Vi phạm pháp luật Tư pháp người chưa thành niên Xử lý chuyển hướng Công tác xã hội

Tên file View
CB 2013–12-04.pdf Đăng nhập để xem
Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hồng Minh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Tiêu Thị Minh Hường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thế Huệ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: KS. Phan Đăng Thọ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tiếp cận khung đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN-QA)

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Thanh Hà

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |