Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thế Huệ

Năm đăng ký: 2018

Năm nghiệm thu: 2018

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, các nghiên cứu đã chỉ ra khái niệm chất lượng cuộc sống (CLCS) mang tính chủ quan và phức hợp, trong đó sức khỏe thể chất, tinh thần, vị thế xã hội và môi trường sống là những điều kiện căn bản. Tại Việt Nam, xu thế già hóa dân số đang diễn ra rất nhanh chóng tạo áp lực nặng nề lên hệ thống an sinh xã hội, cơ sở hạ tầng, dịch vụ y tế và các quan hệ gia đình. Do thu nhập quốc dân còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ khoa học chưa cao nên đời sống của NCT còn đối mặt với nhiều vất vả, mức trợ cấp hạn chế và kinh nghiệm chăm sóc dựa vào cộng đồng còn ở mức độ khiêm tốn. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài được thực hiện nhằm đề xuất giải pháp nâng cao CLCS của NCT để thích ứng với già hóa dân số và xu thế dân số già ở Việt Nam giai đoạn tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống NCT.

Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống NCT;

- Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống NCT ở Việt Nam;

- Đề xuất các giải pháp, lộ trình và điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống NCT Việt Nam.

3. Kết cấu của đề tài

Nội dung chính của đề tài được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi

Chương 2: Thực trạng chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi ở Việt Nam

4. Nội dung chính của đề tài

Chương I. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi.

Chương này tập trung vào hệ thống khái niệm công cụ, đề tài nhất quán sử dụng định nghĩa theo Luật NCT năm 2009, xác định NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Dưới góc độ nghiên cứu xã hội, NCT được xem xét như một nhóm xã hội đặc thù mang lối sống riêng, có các đặc trưng về độ tuổi, có bảo hiểm xã hội, có vị trí vai trò trong gia đình và mang những định hướng giá trị nhóm. Vận dụng định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đề tài tiếp cận khái niệm CLCS của NCT thông qua những cảm nhận cá nhân về sự hài lòng hoàn toàn trên các lĩnh vực cốt lõi gồm đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội và chăm sóc sức khỏe. Theo đó, nâng cao CLCS NCT thực chất là tổng thể các phương pháp, giải pháp tác động của nhà nước, xã hội và chính bản thân NCT nhằm gia tăng chỉ số hài lòng, kéo dài giai đoạn sống khỏe mạnh và nâng cao chỉ số hạnh phúc cho họ.

Nội dung CLCS của NCT chịu tác động sâu sắc bởi các đặc điểm sinh học và tâm lý đặc thù của quá trình lão hóa. Về thể chất, NCT phải đối mặt với sự suy giảm hệ thống cơ xương khớp, các cơ quan cảm giác và nội tạng, cùng đặc điểm đa bệnh lý, bệnh tiến triển âm thầm nhưng dễ suy kiệt và phục hồi chậm. Về tâm lý, NCT có xu hướng coi trọng yếu tố tinh thần, dễ nảy sinh cảm giác tự ti, mặc cảm, sợ trở thành gánh nặng hoặc rơi vào trạng thái hẫng hụt khi thu hẹp phạm vi giao tiếp xã hội sau nghỉ hưu. Qua tổng quan, các yếu tố chính tác động mạnh mẽ đến CLCS của NCT tại Việt Nam bao gồm điều kiện kinh tế hộ gia đình và thu nhập cá nhân (phần lớn NCT có mức thu nhập rất thấp hoặc không có thu nhập); hạ tầng dịch vụ xã hội và các điều kiện chăm sóc y tế (gánh nặng từ các bệnh không lây nhiễm); và yếu tố gia đình (sự biến đổi giá trị gia đình dẫn đến các xung đột thế hệ hoặc tình trạng bạo lực, ngược đãi tinh thần, thể chất). Để lượng hóa các khía cạnh này, đề tài vận dụng hệ thống chỉ báo định tính gồm 3 nhóm với 15 tiêu chí đánh giá toàn diện về chăm sóc đời sống vật chất (nơi ở, dinh dưỡng, trợ cấp), chăm sóc đời sống tinh thần (thông tin, m mừng thọ, hoạt động câu lạc bộ, sự tôn trọng) và chăm sóc sức khỏe (thẻ BHYT, sổ theo dõi, khám sức khỏe định kỳ).

Từ kinh nghiệm quốc tế, đề tài phân tích Công ước về quyền NCT của Liên Hợp Quốc với 10 nguyên tắc và 26 quyền cơ bản, trong đó nhấn mạnh 21 quyền liên quan trực tiếp đến cải thiện CLCS như quyền tự chủ, độc lập, quyền có mức sống đầy đủ, an sinh xã hội và chăm sóc y tế chuyên sâu. Bài học rút ra cho Việt Nam là cần sớm đưa nội dung nâng cao CLCS vào Luật NCT và Luật Dân số; xây dựng môi trường xã, phường thân thiện với NCT phù hợp với văn hóa sống chung nhiều thế hệ; thiết lập bộ tiêu chí đánh giá, giám sát cụ thể; đồng thời triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp từ chỉ đạo điều hành, chăm sóc thể chất, tinh thần đến việc thúc đẩy các nghiên cứu khoa học quy mô quốc gia.

Chương II. Thực trạng chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Đánh giá hệ thống chính sách và luật pháp cho thấy, Việt Nam đã từng bước thể chế hóa quyền lợi của NCT thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, Luật Lao động, Bộ luật Hình sự và đặc biệt là Luật NCT năm 2009. Luật NCT quy định rõ ràng trách nhiệm phụng dưỡng của con cháu, việc tổ chức chúc thọ, mừng thọ và mai táng khi qua đời. Các văn bản hướng dẫn như Thông tư số 21/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính cũng đã quy định cụ thể nội dung và mức chi cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú, chúc thọ, mừng thọ, tạo cơ sở cho các địa phương ban hành các quyết định cụ thể hóa phù hợp với ngân sách của mình. Trên thực tế triển khai, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng đạt được một số kết quả như việc thành lập khoa lão tại phần lớn bệnh viện tỉnh, hỗ trợ cấp thẻ BHYT, tổ chức chương trình “Mắt sáng cho NCT” và phát triển hơn 70.000 câu lạc bộ văn hóa thể thao thu hút đông đảo hội viên. Nguồn Quỹ Chăm sóc và Phát huy vai trò NCT được xây dựng tại 86% xã, phường, thị trấn đã tạo nguồn lực kịp thời cho các hoạt động phong trào. Bên cạnh đó, chính sách bảo trợ xã hội và chi trả lương hưu đã tiếp cận khoảng 46,2% NCT, đồng thời phát huy tốt vai trò của NCT thông qua phong trào “Tuổi cao - Gương sáng”, tham gia hệ thống chính trị cơ sở và đóng góp tích cực cho chương trình xây dựng nông thôn mới.

Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, thực trạng thực hiện các chính sách nâng cao CLCS cho NCT vẫn lộ rõ nhiều khó khăn và hạn chế lớn. Việc giảm giá vé giao thông công cộng, giá dịch vụ vui chơi, giải trí, tham quan di tích lịch sử cho NCT thực hiện chưa đồng bộ, chủ yếu mới giảm ở các đơn vị nhà nước còn các đại lý tư nhân chưa nghiêm túc chấp hành, đồng thời còn thiếu thốn các điểm vui chơi công cộng. Công tác chăm sóc sức khỏe gặp nhiều bất cập khi việc lập hồ sơ theo dõi sức khỏe mới đạt 21,2%, tỷ lệ tham gia BHYT của NCT còn thấp (54,9% hoặc 50,9% tùy theo nguồn số liệu thống kê trong báo cáo) trong khi nhu cầu điều trị bệnh mãn tính rất cao; đội ngũ bác sĩ chuyên khoa lão và việc khám chữa bệnh tại nhà cho đối tượng cô đơn, bệnh nặng còn cực kỳ hạn chế. Mức trợ cấp bảo trợ xã hội cho NCT vẫn còn quá thấp, chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu, và độ tuổi quy định từ đủ 80 tuổi để hưởng trợ cấp là quá cao đối với NCT ở vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số. Công tác xây dựng mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập tiến triển chậm, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Ngoài ra, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác NCT chưa đầy đủ, nhiều nơi còn xem đây thuần túy là hoạt động phong trào của Hội NCT, dẫn đến việc bố trí kinh phí và điều kiện làm việc cho Hội còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nhìn một cách tổng quát, báo cáo đưa ra những kết luận chung phản ánh bản chất thực trạng CLCS của NCT nước ta hiện nay. Số đông NCT ở Việt Nam là nữ và nữ góa chồng, chủ yếu cư trú tại vùng nông thôn, làm nông nghiệp và sống phụ thuộc hoặc sống chung với con cháu. Đời sống vật chất lẫn tinh thần của họ còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt thiếu thốn tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi và vùng dân tộc thiểu số. Tình trạng sức khỏe của NCT tuy có được cải thiện nhưng tốc độ còn chậm, gánh nặng bệnh tật lớn. Môi trường sống của NCT đang đứng trước nhiều thách thức lớn từ sự biến đổi cấu trúc gia đình, đô thị hóa, và các nguy cơ tổn thương về mặt tâm lý xã hội như sự cô đơn hay các hành vi bạo lực gia đình chưa được phát hiện và xử lý nghiêm túc.

Chương III. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi ở Việt Nam

Trước những yêu cầu bức thiết của thời kỳ già hóa dân số nhanh chóng, việc nâng cao CLCS cho NCT đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho toàn hệ thống. Đề tài đã đề xuất một hệ thống giải pháp vĩ mô toàn diện, bắt đầu từ việc đề nghị Đảng sớm nghiên cứu, ban hành Chỉ thị hoặc Nghị quyết chuyên đề về NCT trong thời kỳ già hóa dân số hiện nay để thống nhất định hướng chỉ đạo. Kế tiếp là thực hiện sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật pháp về NCT theo tinh thần Hiến pháp nhằm đồng bộ hóa các quyền lợi an sinh. Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Hội NCT các cấp để làm nòng cốt thúc đẩy phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT”, đồng thời tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 1533/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm huy động các nguồn lực xã hội.

Song song với các chính sách vĩ mô, đề tài nhấn mạnh nhóm giải pháp ứng dụng bộ chỉ số đo lường cụ thể nhằm can thiệp trực tiếp vào việc nâng cao CLCS của NCT. Đối với sức khỏe thể chất, cần sử dụng các chỉ số đo lường để thúc đẩy việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ, lập hồ sơ quản lý bệnh mãn tính tại trạm y tế xã, mở rộng độ bao phủ của thẻ BHYT và tăng cường năng lực cho đội ngũ y tế cơ sở trong việc KCB tại nhà cho NCT cô đơn, bệnh nặng. Đối với đời sống tinh thần, cần áp dụng các chỉ số đo lường để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin qua các chuyên mục phát thanh chuyên biệt, duy trì việc mừng thọ, tang lễ trang trọng, đúng quy định, đồng thời xây dựng các điểm vui chơi giải trí, thể thao phù hợp và nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau tại cộng đồng. Để các giải pháp này đi vào thực tiễn, đề tài khẳng định cần xác định rõ lộ trình thực hiện theo từng giai đoạn phù hợp với sự biến động nhân khẩu học, đồng thời chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tiên quyết về mặt ngân sách nhà nước, nhân lực y tế - công tác xã hội chuyên ngành lão khoa, sự phối hợp liên ngành và sự đẩy mạnh các nghiên cứu khoa học quy mô lớn, hợp tác quốc tế nhằm thích ứng tối ưu với xu thế dân số già.

 

Thành viên đề tài:

Từ khóa: Người cao tuổi Việt Nam Chất lượng cuộc sống

Tên file View
CB2018 - 13 Đăng nhập để xem
Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Đắc Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phương pháp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn năng lực thực hiện của giáo viên dạy nghề

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hồng Minh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghiện ma túy

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Tiêu Thị Minh Hường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu mô hình dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thế Huệ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2018

Các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: KS. Phan Đăng Thọ

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tiếp cận khung đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN-QA)

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Thanh Hà

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Một số giải pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Xác định mối tương quan giữa các loại chuẩn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Bùi Sỹ Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2014

Ứng dụng mô hình kiểm soát hiệu suất hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2019

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |