Giải pháp đào tạo trình độ cử nhân công tác xã hội trước yêu cầu phát triển
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Huyền Linh
Năm đăng ký:
2014
Năm nghiệm thu:
2015
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò quan trọng trong cung cấp các dịch vụ xã hội. Dịch vụ xã hội nói chung và dịch vụ xã hội (DVXH) nói riêng đang ngày càng trở nên phổ biến, thiết yếu đối với sự phát triển toàn diện và công bằng xã hội. Ở các nước phát triển, CTXH đã thành một nghề chuyên nghiệp và DVXH đã được quan tâm phát triển sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, góp phần nâng cao đời sống cho các đối tượng yếu thế nói riêng và cho người dân nói chung.
Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xuất hiện sự phân hoá giàu nghèo và phân hoá xã hội sâu sắc. Trong khi đó, nghề CTXH mới được hình thành, chưa phát triển theo đúng tầm và ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh. Cán bộ làm CTXH còn thiếu và chưa được đào tạo chính quy, các tổ chức cung cấp DVXH ở cộng đồng gần như chưa có. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của các chính sách xã hội và trợ giúp các đối tượng yếu thế. Kết quả nghiên cứu cho thấy: nhu cầu về DVXH hiện nay của các đối tượng xã hội là rất lớn, và trong tương lai càng lớn hơn khi số lượng đối tượng DVXH ngày càng tăng (Trân, 2012).
Nhu cầu dịch vụ xã hội của các nhóm đối tượng rất đa dạng, mỗi một nhóm (người có công, đối tượng chính sách, người tàn tật, người già, hoặc trẻ em) đều có những nhu cầu dịch vụ xã hội đặc trưng riêng. Đây được xem như là đòi hỏi bắt buộc trong việc phát triển và hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội chuyên biệt theo các nhóm đối tượng đặc thù (Đặng Kim Chung, 2012).
Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo, trợ giúp các đối tượng yếu thế. Do đó hệ thống luật pháp, chính sách về an sinh xã hội đã được từng bước hoàn thiện, bao trùm các nhu cầu cơ bản của đối tượng về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, hướng nghiệp, dạy nghề và hoà nhập cộng đồng. Cụ thể như Luật Người khuyết tật (2010), Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020; Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 8/11/2010 của Bộ LĐTBXH quy định tiêu chuẩn, nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội; Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 của Bộ LĐTBXH quy định nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội xã, phường, thị trấn; và Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10/6/2013 của Bộ LĐTBXH-Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trung tâm dịch vụ công tác xã hội công lập huyện (Bộ Nội vụ, 2010).
Đối tượng trợ giúp từng bước được mở rộng mức trợ cấp ngày càng cao hơn (Nghị định 136/2013/NĐ-CP), cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng tốt hơn (Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH ngày 25/2/2011 của Bộ LĐTBXH quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội) (Bộ LĐTBXH, 2010). Đặc biệt hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên làm công tác xã hội (CTXH) trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng được mở rộng. Đó là những người làm việc trong các lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật, trợ giúp các cá nhân, gia đình tan vỡ, phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm, chăm sóc bệnh nhân tâm thần, chăm sóc, trợ giúp người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, giảm nghèo và trợ giúp người già; Chương trình đào tạo bậc học cử nhân CTXH cũng đang được đầu tư, quan tâm (Hai Anh, 2012).
Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian dài, ở nước ta, chức năng của CTXH được thực hiện trong vai trò là các hoạt động vận động xã hội, từ thiện, do đó có rất ít các hoạt động dịch vụ chuyên nghiệp. Kết quả của cuộc khảo sát năm 2009 do các chuyên gia đến từ tổ chức UNICEF và Bộ LĐTBXH chỉ ra rằng, tại mỗi tỉnh đều có các trung tâm BTXH thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ cho các đối tượng yếu thế, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như trẻ mồ côi, bị bỏ rơi, người già cô đơn, người khuyết tật hoặc người tâm thần. Hầu hết các cơ sở đó đều cung cấp dịch vụ chăm sóc tập trung dài hạn và có rất ít các hoạt động hỗ trợ cộng đồng. Hơn nữa, một số trung tâm chỉ chuyên chăm sóc nuôi dưỡng lâu dài các đối tượng, trong khi tại những cơ sở khác thì trọng tâm ưu tiên lại là phục hồi. Việc lập kế hoạch, hỗ trợ và theo dõi đối tượng tái hoà nhập cộng đồng, cung cấp các thông tin phù hợp về các vấn đề như sức khoẻ, tham vấn tâm lý và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương nhất cũng rất hạn chế. Thực trạng này có nguyên nhân chính là chúng ta chưa hiểu hết các nhu cầu đa dạng của các đối tượng, mặt khác là do năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ còn yếu, chưa được đào tạo bài bản (Bộ LĐTBXH, 2011).
Hiện nay, công tác đào tạo theo hướng chuyên nghiệp chưa được sâu rộng, các cán bộ có chuyên môn chưa nhiều. Hướng tới việc phát triển nghề CTXH thành một nghề chuyên nghiệp cần thiết phải mở rộng, đổi mới đào tạo nguồn nhân lực. Hiện nay, cả nước mới có gần 40 trường Đại học, Cao đẳng bước đầu đào tạo nghề công tác xã hội nhưng chưa có cơ quan nào đứng ra kiểm định chất lượng đào tạo. Trong tương lai gần không chỉ mở rộng quy mô đào tạo mà còn phải gắn đào tạo CTXH với yêu cầu phát triển dịch vụ CTXH nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội (Nguyễn Văn Hồi, 2012).
Do vậy, nghiên cứu các giải pháp đào tạo CTXH gắn liền với yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội được coi là một nhiệm vụ quan trọng, có thể góp phần cải thiện chất lượng đào tạo và các dịch vụ công tác xã hội ở nước ta. Xuất phát từ những vấn đề mang tính cốt lõi đó, đào tạo CTXH gắn liền với yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội đang là yêu cầu bức thiết. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp đào tạo CTXH gắn liền với DVXH là một hoạt động rất có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn trong phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam. Thông qua đó, cung cấp thông tin, kinh nghiệm cho các cơ sở đào tạo CTXH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân nghề CTXH.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo cử nhân công tác xã hội (CTXH) trước yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đặt ra mục tiêu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn đào tạo cử nhân CTXH đáp ứng yêu cầu phát triển DVXH.
- Đánh giá thực trạng cung – cầu về cử nhân CTXH.
- Đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên tham gia đào tạo cử nhân CTXH.
- Đánh giá thực trạng chương trình đào tạo cử nhân CTXH.
- Đánh giá thực trạng cơ sở vật chất của các trường đào tạo cử nhân CTXH.
- Khuyến nghị, giải pháp điều kiện và lộ trình thực hiện chương trình đào tạo cử nhân CTXH đáp ứng yêu cầu phát triển DVXH.
3. Kết cấu của đề tài Gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở khoa học và thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực cử nhân công tác xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội.
Chương II: Thực trạng chương trình đào tạo cử nhân công tác xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội.
Chương III: Khuyến nghị, giải pháp thực hiện chương trình đào tạo cử nhân công tác xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở khoa học và thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực cử nhân công tác xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội.
Chương này đề tài đã hệ thống hóa các khái niệm về dịch vụ, dịch vụ xã hội, công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội, đồng thời làm rõ vai trò của cử nhân CTXH trong phát triển dịch vụ xã hội. Đề tài chỉ ra nhu cầu dịch vụ xã hội ở Việt Nam hiện nay rất lớn (khoảng 20% dân số cần trợ giúp xã hội) trong khi đội ngũ nhân lực CTXH còn mỏng, chỉ khoảng 8,5% cán bộ, nhân viên được đào tạo đúng chuyên ngành. Đề tài rà soát hệ thống cơ sở pháp lý về đào tạo cử nhân CTXH (Luật Giáo dục đại học, Chương trình khung giáo dục đại học ngành Công tác xã hội năm 2004, Đề án phát triển nghề CTXH Việt Nam giai đoạn 2010-2020 và các văn bản liên quan), cho thấy hệ thống văn bản còn phân tán, chủ yếu là văn bản dưới luật, hiệu lực pháp lý chưa cao và thiếu đồng bộ. Trên cơ sở đó, đề tài phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng tới đào tạo cử nhân CTXH (chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận thức xã hội về nghề CTXH; chất lượng đội ngũ giảng viên, sinh viên đầu vào, chương trình – giáo trình, phương pháp giảng dạy và cơ sở vật chất), đề xuất các tiêu chí xác định nhu cầu đào tạo cử nhân CTXH (nhu cầu tuyển dụng của các cơ quan, cơ sở dịch vụ; kiến thức – kỹ năng – thái độ cần có ở nhân viên CTXH; nhu cầu của người học), và đúc kết kinh nghiệm đào tạo cử nhân CTXH tại Anh, Mỹ, Philippines và Singapore làm cơ sở tham chiếu cho Việt Nam.
4.2. Chương II, đề tài đánh giá thực trạng chương trình đào tạo cử nhân CTXH:
Chương II đánh giá thực trạng cung – cầu cử nhân CTXH: cả nước hiện có 22 trường đại học đào tạo cử nhân CTXH với khoảng 2.600 sinh viên nhập học mỗi năm, song có tới 26,2% cử nhân tốt nghiệp chưa hoặc không tìm được việc làm đúng chuyên ngành; nhu cầu tuyển dụng thực tế tại các cơ sở dịch vụ xã hội còn thấp (khoảng 20% cơ sở được khảo sát có nhu cầu tuyển dụng trong năm) nhưng được dự báo tăng lên khoảng 67% trong 5 năm tới. Đề tài đánh giá chương trình đào tạo hiện còn nặng về lý thuyết, thời lượng thực hành thấp hơn nhiều so với chuẩn của các nước phát triển; đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ đúng chuyên ngành CTXH còn rất thấp, phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình một chiều, năng lực nghiên cứu khoa học và kỹ năng hướng dẫn thực hành còn nhiều hạn chế. Về cơ sở vật chất, phòng học, thư viện, ký túc xá và trang thiết bị phục vụ giảng dạy tại nhiều trường còn thiếu thốn; mạng lưới cơ sở thực hành – thực tập và đội ngũ kiểm huấn viên chuyên nghiệp chưa phát triển. Trên cơ sở đó, chương này chỉ ra những vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất phục vụ đào tạo cử nhân CTXH.
4.3. Chương III, đề tài khuyến nghị các giải pháp thực hiện chương trình đào tạo cử nhân CTXH:
Đề tài phân tích bối cảnh và yêu cầu phát triển dịch vụ xã hội ở Việt Nam đến năm 2025 (dự báo số người cần trợ giúp xã hội tăng lên khoảng 30 triệu người), cùng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển dịch vụ xã hội và đào tạo nguồn nhân lực CTXH. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp:
(1) hoàn thiện cơ chế, chính sách đào tạo cử nhân CTXH gắn với nhu cầu phát triển dịch vụ xã hội;
(2) đổi mới chương trình, giáo trình đào tạo theo hướng tăng thời lượng thực hành, gắn chuẩn đầu ra với nhu cầu của nhà tuyển dụng;
(3) nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên về trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học, kỹ năng hướng dẫn thực hành và đạo đức nghề nghiệp;
(4) xây dựng và phát triển mạng lưới cơ sở thực hành, thực tập cho sinh viên;
(5) nâng cao chất lượng sinh viên đầu vào và đảm bảo chất lượng đầu ra; (6) nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo.
Ngoài ra, đề tài cũng đề xuất các điều kiện thực hiện đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cùng các trường đào tạo CTXH, kèm theo lộ trình thực hiện qua hai giai đoạn 2015-2020 và 2020-2025, hướng tới mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 10 trường đại học đạt chuẩn quốc tế về đào tạo cử nhân CTXH.
Thành viên đề tài:
ThS. Nguyễn Kim Loan; PGS.TS. Trịnh Khắc Thẩm; ThS. Nguyễn Lê Trang; TS. Nguyễn Thị Hương; ThS. Nguyễn Hồng Linh; ThS. Nguyễn Tuấn Long; ThS. Phạm Thị Thu Trang (đều công tác tại Trường Đại học Lao động – Xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
Từ khóa:
Công tác xã hội Cử nhân công tác xã hội Đào tạo nguồn nhân lực Dịch vụ xã hội Chương trình đào tạo
|
Tên file |
View |
|
CB2014-04-21.pdf
|
Đăng nhập để xem
|