Đổi mới cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Chủ nhiệm:
ThS. Trương Anh Dũng
Năm đăng ký:
2013
Năm nghiệm thu:
2014
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, được sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, dạy nghề đã được phục hồi, từng bước được đổi mới và phát triển, quy mô dạy nghề được mở rộng, chất lượng dạy nghề được nâng cao, đa dạng hoá các loại hình và hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu cấp trình độ đào tạo, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề được chú trọng, đa dạng hoá và tăng cường nguồn lực dành cho dạy nghề, chất lượng dạy nghề đã chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng được yêu cầu đội ngũ lao động qua đào tạo nghề phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và xuất khẩu lao động.
Tuy nhiên, so với nhu cầu học nghề của xã hội, yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay thì dạy nghề vẫn chưa đáp ứng được và còn nhiều yếu kém, đó là: dạy nghề chủ yếu vẫn theo hướng cung; chất lượng dạy nghề còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động; quy mô đào tạo nghề còn nhỏ, nhất là đào tạo nghề trình độ cao; cơ cấu ngành, nghề đào tạo chưa phù hợp với cơ cấu ngành nghề của thị trường lao động; chưa đáp ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động. Một trong những nguyên nhân dẫn tới những yếu kém trên đây, đó là do nguồn lực tài chính cho dạy nghề - với vai trò là một trong những nguồn lực “đầu vào” cơ bản để phát triển dạy nghề, chưa được khai thác, quản lý và sử dụng có hiệu quả cao, mà sâu xa hơn nữa là do cơ chế quản lý tài chính cho dạy nghề nước ta trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý tài chính và yêu cầu phát triển dạy nghề.
Để đổi mới và phát triển dạy nghề một cách mạnh mẽ, toàn diện, góp phần phát triển nhanh nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp cao nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 đòi hỏi cơ chế quản lý tài chính cho dạy nghề cần phải tiếp tục phải đổi mới và tăng cường hơn nữa.
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 với 9 giải pháp, trong đó có giải pháp đổi mới chính sách tài chính về dạy nghề trong giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về dạy nghề - một trong 2 giải pháp đột phá thực hiện Chiến lược. Ngày 9/8/2012, Chính phủ đã có Nghị quyết số 40/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Thông báo Kết luận số 37-TB/TW ngày 26 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”, trong đó Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được giao xây dựng nhiều văn bản, đề án, chính sách, quy định về cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính của lĩnh vực dạy nghề. Đồng thời, hiện nay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đang được giao nghiên cứu, sửa đổi Luật Dạy nghề năm 2006 trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, những nội dung có liên quan đến đổi mới cơ chế quản lý tài chính để hỗ trợ phát triển dạy nghề đã và đang được đặt ra để nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển dạy nghề trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên đây, việc lựa chọn đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020” để nghiên cứu là cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Kỳ vọng của đề tài này là tìm kiếm được giải pháp có tính khoa học và thực tiễn nhằm giải quyết những điểm hạn chế, bất cập hiện nay về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề, qua đó sẽ làm động lực để hỗ trợ dạy nghề nước ta đạt được các mục tiêu Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề.
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Những lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề
Chương này tập trung xây dựng khung lý thuyết về mối quan hệ giữa dạy nghề và phát triển kinh tế - xã hội. Đề tài khẳng định dạy nghề là một phần quan trọng của giáo dục, cung cấp kỹ năng thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo để người học sau tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm.
Về khía cạnh kinh tế học, dạy nghề được xác định là một loại hàng hóa công cộng đặc biệt (không thuần túy), do đó dịch vụ dạy nghề có thể do khu vực công hoặc tư nhân cung cấp tùy thuộc vào lợi ích xã hội và chi phí giao dịch. Đề tài đi sâu phân tích khái niệm và nội dung của cơ chế quản lý tài chính dạy nghề, bao gồm ba nội dung chính: huy động nguồn lực; phân bổ và sử dụng; kiểm tra và giám sát.
Đề tài cũng tổng hợp kinh nghiệm quốc tế từ các nước như Đức (mô hình đào tạo kép), Mỹ, Canada và khối ASEAN. Những bài học được rút ra cho Việt Nam bao gồm việc chấm dứt tình trạng "xin - cho" trong lập ngân sách, đa dạng hóa nguồn vốn xã hội hóa, và đặc biệt là áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến như lập ngân sách trung hạn và lập ngân sách dựa trên kết quả đầu ra.
4.2. Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề Việt Nam Đề tài đánh giá thực trạng hệ thống dạy nghề giai đoạn 2007-2013 dựa trên khung pháp lý của Luật Dạy nghề 2006. Kết quả cho thấy mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển nhanh (đạt 1.339 cơ sở năm 2013) nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các vùng đô thị và đồng bằng. Các điều kiện đảm bảo chất lượng như giáo viên và trang thiết bị vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng thiết bị cũ kỹ và thiếu thư viện, ký túc xá.
Phân tích sâu về cơ chế quản lý tài chính, đề tài chỉ ra cơ cấu nguồn lực hiện nay: Ngân sách Nhà nước (NSNN) chiếm khoảng 60%, học phí 18%, thu từ dịch vụ 14% và đầu tư khác 8%. Những hạn chế cốt lõi được nhận diện bao gồm:
Về huy động: NSNN chi cho dạy nghề tuy tăng nhưng vẫn thấp so với nhu cầu thực tế và thấp hơn nhiều so với các nước phát triển (chỉ đạt khoảng 0,46% GDP năm 2013). Cơ chế thu học phí còn mang tính "tượng trưng", chưa tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo.
Về phân bổ: Quản lý còn phân tán, chồng chéo giữa các Bộ, ngành và địa phương. Việc cấp phát ngân sách vẫn theo kiểu truyền thống dựa trên "đầu vào" (biên chế, dân số) thay vì hiệu quả "đầu ra", dẫn đến tình trạng bình quân chủ nghĩa và dàn trải.
Về kiểm tra, giám sát: Bộ tiêu chí giám sát đánh giá mới chỉ bắt đầu được hình thành cho các dự án mục tiêu quốc gia, chưa bao phủ toàn bộ hoạt động tài chính ngành. Công tác thanh tra còn yếu về cả số lượng và năng lực.
4.3. Chương 3: Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề đến năm 2020
Dựa trên mục tiêu Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ trên 5 nhóm chính:
Đổi mới cơ chế huy động: Tăng tỷ lệ ngân sách dành cho dạy nghề đạt 10% tổng chi giáo dục giai đoạn 2011-2015 và 12% giai đoạn 2016-2020. Chuyển đổi chính sách học phí theo hướng tính đủ giá dịch vụ dạy nghề gắn với chất lượng, đồng thời Nhà nước đảm bảo hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách và nghề đặc thù.
Đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng: Xây dựng hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở để chuyển từ giao dự toán hàng năm sang cơ chế đặt hàng hoặc đấu thầu nhiệm vụ dạy nghề. Thực hiện quản lý chi NSNN theo khuôn khổ trung hạn 3 năm để đảm bảo tính chủ động và bền vững.
Thúc đẩy xã hội hóa và vai trò doanh nghiệp: Hoàn thiện ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (áp dụng mức 10%) và cho phép doanh nghiệp tính các chi phí đào tạo vào chi phí hợp lý khi tính thuế. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào quy trình đào tạo và đánh giá kỹ năng.
Cải thiện tính minh bạch: Công khai hóa toàn bộ quy trình ngân sách từ khâu lập dự toán đến báo cáo quyết toán, phân định rõ trách nhiệm giải trình của từng cấp quản lý.
Tăng cường kiểm tra, giám sát: Kiện toàn bộ máy thanh tra chuyên ngành, xây dựng đội ngũ cộng tác viên và đặc biệt là thiết lập hệ thống Kiểm toán nội bộ ngay tại các cơ sở dạy nghề để quản trị rủi ro tài chính.
Thành viên đề tài:
ThS. Trần Quang Lâm - Chuyên viên, Phòng Dữ liệu thông tin và Thống kê, Văn phòng Tổng cục Dạy nghề; ThS. Trần Thị Liễu - Trưởng phòng Kế hoạch, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; ThS. Phạm Ngọc Thắng – Phó Chánh Văn phòngTổng cục Dạy nghề; CN. Nguyễn Thị Hoa – Chuyên viên, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; CN. Đặng Thế Trường - Chuyên viên, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Tổng cục Dạy nghề; CN. Nguyễn Tiến Mạnh - Chuyên viên, Ban Quản lý các dự án
Từ khóa:
Quản lý tài chính Dạy nghề Đổi mới cơ chế Ngân sách nhà nước Xã hội hóa dạy nghề Việt Nam 2020
|
Tên file |
View |
|
CB2013-04-08.pdf
|
Đăng nhập để xem
|