Các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động
Chủ nhiệm:
KS. Phan Đăng Thọ
Năm đăng ký:
2014
Năm nghiệm thu:
2015
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002 có hiệu lực, ba tổ chức Thanh tra nhà nước về Chính sách lao động, An toàn lao động (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) và Vệ sinh lao động (thuộc Bộ Y tế) được hợp nhất thành “Thanh tra lao động” do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện. Như vậy, theo Bộ luật Lao động thì chức năng thanh tra nhà nước về vệ sinh lao động do Thanh tra lao động thực hiện và không còn tồn tại cơ quan Thanh tra Vệ sinh lao động.
Hơn 10 năm hợp nhất ba tổ chức thanh tra, Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã thực hiện thanh tra cả 3 lĩnh vực về lao động (chính sách lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động) đối với doanh nghiệp, cơ sở lao động. Trong khi đó, toàn ngành thời điểm nhiều nhất cũng chỉ có 02 bác sỹ chuyên ngành Y học dự phòng, được đào tạo chính quy về vệ sinh lao động trong số khoảng 150 người làm công tác thanh tra lao động.
Theo báo cáo tổng kết công tác y tế lao động của Bộ Y tế (Báo cáo số 212/BC-MT ngày 21 tháng 02 năm 2014), sáu tháng năm 2014 tình hình ô nhiễm môi trường lao động có xu hướng tăng. Số mẫu môi trường lao động vượt tiêu chuẩn cho phép năm 2013 là 8,35% tổng số mẫu đo, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2012. Trong khi đó, thực trạng năng lực của thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nói chung và thanh tra vệ sinh lao động nói riêng như hiện nay đã bộc lộ những hạn chế, bất cập (thiếu về số lượng; hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ vệ sinh lao động; cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo cho hoạt động thanh tra cũng còn hạn chế).
Về thể chế, quy định hành vi và chế tài xử lý vi phạm về vệ sinh lao động còn thiếu; việc phân định chức năng quản lý nhà nước và thanh tra nhà nước về vệ sinh lao động thuộc ngành Y tế hay ngành Lao động - Thương binh và Xã hội cũng còn là vấn đề tranh cãi (Bộ Y tế đã có văn bản - Công văn số 4044/BYT-MT ngày 25 tháng 6 năm 2014 - đề nghị đưa chức năng thanh tra vệ sinh lao động trả Bộ Y tế vào trong Luật An toàn, vệ sinh lao động)... Cần phải làm rõ và hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến thanh tra vệ sinh lao động kịp thời với tiến trình xây dựng Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn.
Từ những đòi hỏi bức thiết trên, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nghiên cứu xây dựng Đề án nâng cao năng lực thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (trong đó có thanh tra vệ sinh lao động). Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 2155/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013) với 6 giải pháp, trong đó có nội dung “...Tăng cường lực lượng thanh tra viên lao động, thương binh và xã hội phù hợp với yêu cầu thực tế của đối tượng thanh tra và nhiệm vụ quản lý của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và bảo đảm cơ bản điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở đào tạo cho đội ngũ thanh tra viên, công chức thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội...”.
Triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng lực thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2020 về nội dung thanh tra vệ sinh lao động, Thanh tra Bộ phải tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng công tác thanh tra vệ sinh lao động nhằm tìm ra những bất cập cụ thể về cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy, quy trình thanh tra, trang thiết bị phục vụ thanh tra chuyên ngành vệ sinh lao động... Việc nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực thanh tra vệ sinh lao động và thực tiễn bất cập trong công tác thanh tra vệ sinh lao động hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực công tác thanh tra vệ sinh lao động là mục đích của đề tài này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng năng lực thanh tra vệ sinh lao động và các yếu tố liên quan.
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, nội dung đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra vệ sinh lao động và năng lực thanh tra vệ sinh lao động.
Chương 2: Thực trạng năng lực thanh tra lao động.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1, đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra vệ sinh lao động và năng lực thanh tra vệ sinh lao động:
Đề tài làm rõ các khái niệm cốt lõi: vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp đảm bảo điều kiện lao động hợp vệ sinh nhằm giữ gìn, tăng cường sức khỏe và phòng bệnh nghề nghiệp cho người lao động, bao gồm các nhóm biện pháp hành chính, kỹ thuật, tổ chức lao động, y tế và bảo vệ cá nhân; pháp luật về vệ sinh lao động gồm quy định của luật, quy chuẩn kỹ thuật và nguyên tắc chuyên môn; hai nhóm đối tượng phải chấp hành là cơ sở lao động và đơn vị dịch vụ vệ sinh lao động. Đề tài phân tích vị trí, chức năng, nhiệm vụ của thanh tra vệ sinh lao động trong hệ thống thanh tra lao động (gồm nhiệm vụ 1 - kiểm soát việc chấp hành quy định của pháp luật và nhiệm vụ 2 - kiểm soát việc bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn, nguyên tắc chuyên ngành), từ đó chỉ ra yêu cầu kiến thức chuyên ngành đối với Thanh tra viên vệ sinh lao động.
Trên cơ sở lý luận về năng lực con người, năng lực cơ quan, tổ chức và năng lực cơ quan thanh tra, đề tài xác định bốn yếu tố cấu thành năng lực thanh tra vệ sinh lao động: chức năng, nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu quản lý của ngành; nguồn lực đầy đủ (nhân lực có kiến thức chuyên ngành, phương tiện, trang thiết bị, công cụ làm việc); tổ chức, hoạt động (bộ máy độc lập, phương thức hoạt động tiên tiến); và quy định của pháp luật tương ứng chế tài xử lý. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực thanh tra vệ sinh lao động gồm nguồn lực đầy đủ, kết quả thanh tra đáp ứng yêu cầu (tần suất, chất lượng, số liệu thống kê) và hiệu lực thanh tra. Đồng thời, đề tài tổng hợp kinh nghiệm tổ chức thanh tra an toàn, vệ sinh lao động của 12 quốc gia, khái quát thành ba mô hình tổ chức (thanh tra vệ sinh lao động nằm trong thanh tra lao động chung; thanh tra chuyên ngành an toàn, vệ sinh lao động độc lập; thanh tra an toàn lao động thuộc ngành Lao động và thanh tra vệ sinh lao động thuộc ngành Y tế), làm cơ sở đề xuất khả năng ứng dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
4.2. Chương 2: Thực trạng năng lực thanh tra lao động
Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thanh tra lao động đối với nội dung vệ sinh lao động, đề tài rà soát quá trình thay đổi quy định pháp luật về thanh tra vệ sinh lao động qua các thời kỳ (Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Pháp lệnh Bảo hộ lao động năm 1991, Bộ luật Lao động các năm 1994, 2002 và 2012), chỉ ra rằng từ năm 2002 chức năng thanh tra vệ sinh lao động đã được hợp nhất về ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nhưng quy định về chế tài xử lý vi phạm tại Nghị định số 95/2013/NĐ-CP mới chỉ bao quát khoảng 20 trong số 30 hành vi vi phạm cần xử lý, đặc biệt còn thiếu chế tài đối với các vi phạm về nguyên tắc, tiêu chuẩn chuyên ngành.
Về tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động, đề tài chỉ ra mô hình thanh tra hai cấp (Thanh tra Bộ và Thanh tra Sở) theo nguyên tắc song trùng trực thuộc làm hạn chế vai trò chỉ đạo nghiệp vụ của Thanh tra Bộ; lực lượng thanh tra lao động toàn ngành năm 2014 có 471 cán bộ, công chức, trong đó chỉ khoảng 150 người làm công tác thanh tra lao động và duy nhất 01 người được đào tạo đúng chuyên ngành vệ sinh lao động; phương thức thanh tra chủ yếu thực hiện toàn diện theo 3 luật nên nội dung vệ sinh lao động chưa được kiểm tra chuyên sâu; công cụ thanh tra (đề cương, bảng kiểm, phần mềm thanh tra điện tử) chưa được chuẩn hóa, thống nhất.
Về phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên dụng, qua khảo sát tại 38 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, đề tài cho thấy thiết bị đo môi trường lao động được trang bị còn thiếu, khoảng 50% địa phương chưa hiệu chuẩn thiết bị, việc sử dụng chưa tuân thủ đầy đủ quy định của Luật đo lường, nên kết quả đo chưa đủ căn cứ pháp lý và khoa học để xử lý vi phạm. Kết quả thanh tra cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp được thanh tra hằng năm chỉ khoảng 2% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động; kết quả thanh tra và khảo sát chuyên đề tại 73 và 66 doanh nghiệp trọng điểm về vệ sinh lao động cho thấy tỷ lệ vi phạm các quy định về vệ sinh lao động dao động từ 15% đến trên 75% tùy hành vi, phổ biến nhất là không cấp đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, không ban hành đủ quy trình, biện pháp vệ sinh lao động và không khám sức khỏe định kỳ đầy đủ. Từ đó, đề tài đánh giá chung ba nhóm vấn đề đặt ra: thể chế về thanh tra vệ sinh lao động còn bất hợp lý, chồng chéo giữa chức năng quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với Bộ Y tế; tổ chức hoạt động của thanh tra lao động còn nhiều bất cập; đầu tư và quản lý thiết bị chuyên dụng chưa hợp lý.
4.3. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động
Trên cơ sở bối cảnh, quan điểm và xu hướng phát triển thanh tra an toàn, vệ sinh lao động: Căn cứ định hướng xây dựng Luật An toàn, vệ sinh lao động (dự kiến ban hành năm 2015) theo hướng mở rộng đối tượng quản lý và bổ sung lực lượng thanh tra chuyên ngành an toàn, vệ sinh lao động, đề tài đề xuất 5 nhóm giải pháp chính nhằm nâng cao năng lực thanh tra vệ sinh lao động.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế: phân công cụ thể chức năng quản lý nhà nước và thanh tra nhà nước về vệ sinh lao động giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế trong Luật An toàn, vệ sinh lao động; bổ sung nguyên tắc quản lý sức khỏe nghề nghiệp; gỡ bỏ quy định bắt buộc người sử dụng lao động phải thuê dịch vụ vệ sinh lao động, thay bằng quy định hợp chuẩn, hợp quy đối với dịch vụ; bổ sung chế tài xử lý vi phạm quy chuẩn, nguyên tắc chuyên ngành đối với cả cơ sở lao động và cơ sở dịch vụ vệ sinh lao động.
Thứ hai, xây dựng cơ chế phối hợp quản lý môi trường lao động và quản lý sức khỏe giữa các ngành liên quan, gồm phối hợp với Bộ Y tế trong thanh tra về sức khỏe lao động và phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để thống nhất nội dung, biểu mẫu đo môi trường lao động, tránh chồng chéo thủ tục giữa Bộ luật Lao động và Luật bảo vệ môi trường.
Thứ ba, tạo cơ chế bổ sung lực lượng thanh tra viên an toàn, vệ sinh lao động thông qua việc giao chức năng thanh tra chuyên ngành cho cơ quan quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động ở 3 cấp, xây dựng mạng lưới cộng tác viên thanh tra từ đội ngũ kỹ thuật vệ sinh lao động của ngành Y tế và thực hiện lộ trình tăng biên chế theo Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Thứ tư, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng Thanh tra viên: tiêu chuẩn hóa chương trình đào tạo nghiệp vụ thanh tra vệ sinh lao động (cơ bản và nâng cao), quản lý đào tạo đến từng cá nhân để tránh chồng chéo, lãng phí; phối hợp với các trường đại học xây dựng mã ngành Cử nhân vệ sinh lao động nhằm tạo nguồn nhân lực chuyên môn cho cả ba khu vực quản lý nhà nước, thanh tra nhà nước và doanh nghiệp.
Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng phương thức thanh tra điện tử, xây dựng cổng thông tin điện tử tích hợp phần mềm tác nghiệp và thống kê thanh tra trực tuyến nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao độ chính xác và công khai kết quả thanh tra. Đề tài cũng đã chỉ rõ các hạn chế, nguyên nhân và kiến nghị cụ thể đối với Ban soạn thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Thanh tra Bộ, cùng lộ trình thực hiện đến năm 2020.
Thành viên đề tài:
ThS.BS. Lê Mạnh Kiểm (Thư ký đề tài), Phó trưởng phòng Thanh tra An toàn, vệ sinh lao động, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; PGS.TS.BS. Trần Thị Ngọc Lan, Chuyên gia cao cấp, Viện Sức khỏe nghề nghiệp, Bộ Y tế; ThS. Nguyễn Đồng Luyện, Phó trưởng phòng Tổng hợp và Thanh tra hành chính, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; ThS. Vũ Văn Lực, Thanh tra viên, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; KS. Lê Hồng Lượng, Thanh tra viên, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh v
Từ khóa:
Vệ sinh lao động Thanh tra vệ sinh lao động Năng lực thanh tra Thanh tra lao động An toàn vệ sinh lao động Bệnh nghề nghiệp
|
Tên file |
View |
|
CB2014-03-09.pdf
|
Đăng nhập để xem
|