Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 299/2026/NĐ-CP ngày 28/7/2026 quy định về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Nghị định quy định rõ nguyên tắc, điều kiện thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; đồng thời quy định về quyền tự chủ tổ chức bộ máy đối với các đơn vị này.

Nguyên tắc thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Nghị định, việc thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập phải bảo đảm điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này; trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Một đơn vị sự nghiệp công lập có thể cung cấp nhiều dịch vụ sự nghiệp công trong cùng ngành, lĩnh vực hoặc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công của nhiều ngành, lĩnh vực.

Đơn vị sự nghiệp công lập thành lập mới phải tự bảo đảm chi thường xuyên trở lên, trừ trường hợp thành lập mới để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu. Riêng đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập mới đơn vị trực thuộc - kể cả trường hợp cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu - phải tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư.

Việc tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm một phần chi thường xuyên không được làm tăng số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp hợp nhất, sáp nhập các đơn vị sự nghiệp công lập có mức độ tự chủ tài chính khác nhau, mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sau hợp nhất, sáp nhập sẽ do cơ quan có thẩm quyền thành lập, tổ chức lại đơn vị quyết định.

Điều kiện thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập

1. Điều kiện thành lập

Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

a) Phù hợp với quy hoạch ngành (nếu có) hoặc phương án phát triển mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

b) Đáp ứng tiêu chí, điều kiện thành lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành, trừ đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn cấp xã;

c) Xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động;

d) Bảo đảm số lượng người làm việc tối thiểu được giao là 15 người, trừ các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu được thành lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Riêng đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, số lượng người làm việc được xác định theo đề án thành lập đã được phê duyệt; đối với đơn vị ở nước ngoài, số lượng người làm việc xác định trong đề án thành lập được phê duyệt;

đ) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài, ngoài các điều kiện tại điểm a, b, c, d nêu trên, còn phải bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước sở tại về việc thành lập, hoạt động của đơn vị.

2. Điều kiện tổ chức lại

Đơn vị sự nghiệp công lập được tổ chức lại khi thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Có điều chỉnh về tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để phù hợp với quy hoạch ngành hoặc phương án phát triển mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực, bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng quy định về số lượng người làm việc tối thiểu nêu trên;

b) Không đáp ứng đủ điều kiện thành lập quy định tại điểm b hoặc điểm d mục 1;

c) Không bảo đảm mức độ tự chủ tài chính theo phương án đã được phê duyệt, trừ trường hợp đơn vị có thay đổi về chức năng, nhiệm vụ hoặc do biến động kinh tế - xã hội, nguyên nhân bất khả kháng làm thay đổi nguồn thu, nhiệm vụ chi;

d) Đối với đơn vị ở nước ngoài, ngoài một trong các điều kiện tại điểm a, b, c nêu trên, còn phải bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế liên quan.

3. Điều kiện giải thể

Đơn vị sự nghiệp công lập giải thể khi thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Không còn chức năng, nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội, hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước;

b) Không đáp ứng đủ điều kiện thành lập quy định tại điểm a, b hoặc d mục 1;

c) Ba năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ theo đánh giá của cơ quan có thẩm quyền;

d) Thực hiện theo quy hoạch ngành hoặc phương án phát triển mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực;

đ) Đối với đơn vị ở nước ngoài, ngoài một trong các điều kiện tại điểm a, b, c, d nêu trên, còn phải bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế liên quan.

Tự chủ về tổ chức bộ máy đơn vị sự nghiệp công lập

Điều 6, Nghị định số 299/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về quyền tự chủ tổ chức bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập như sau:

1. Về tổ chức bộ máy

Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên được quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị thuộc phạm vi quản lý theo đề án tự chủ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và các điều kiện, tiêu chí theo quy định của pháp luật.

Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên thì chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức do cơ quan có thẩm quyền quy định theo pháp luật.

Việc thành lập các phòng, ban và tổ chức cấu thành khác (không phải đơn vị sự nghiệp công lập) thuộc hai nhóm đơn vị nêu trên phải đáp ứng tiêu chí: công việc, lĩnh vực do phòng đảm nhiệm có từ 2 mảng công tác trở lên, có quy trình quản lý riêng theo yêu cầu của đối tượng quản lý; đồng thời khối lượng công việc đòi hỏi bố trí từ 7 người làm việc trở lên.

2. Về khung số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị

Đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên: số lượng cấp phó thực hiện theo đề án thành lập (trường hợp thành lập mới) hoặc đề án tự chủ đã được phê duyệt.

Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: số lượng cấp phó của các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ được bố trí bình quân không quá 3 người/đơn vị. Đơn vị có từ 20 người làm việc trở xuống được bố trí không quá 2 cấp phó; trên 20 người được bố trí không quá 3 cấp phó. Riêng bệnh viện hạng I trở lên, đơn vị sự nghiệp y tế làm nhiệm vụ kiểm soát, phòng chống bệnh tật tuyến tỉnh hạng I trở lên, và trường phổ thông nhiều cấp học quy mô từ 40 lớp trở lên được bố trí không quá 3 cấp phó.

3. Về khung số lượng cấp phó của người đứng đầu phòng

Đối với phòng thuộc đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên: số lượng cấp phó thực hiện theo đề án thành lập hoặc đề án tự chủ đã được phê duyệt.

Đối với phòng thuộc đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: phòng có từ 7 đến 9 người làm việc được bố trí 1 Phó Trưởng phòng; từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 Phó Trưởng phòng.

4. Thẩm quyền quyết định số lượng cấp phó

Căn cứ khung số lượng cấp phó nêu trên (trừ các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ), Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã quyết định cụ thể số lượng cấp phó của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý, căn cứ vào: vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị; quy mô số lượng người làm việc và số đầu mối tổ chức trực thuộc; phạm vi hoạt động, tính chất, đặc điểm chuyên môn, nghiệp vụ.

Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định riêng về tự chủ tổ chức bộ máy theo ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

5. Về nội dung và phê duyệt đề án tự chủ

Đề án tự chủ gồm các nội dung: mục tiêu, định hướng phát triển; tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và phương án tự chủ tài chính đã được phê duyệt; lộ trình nâng cao mức độ tự chủ về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công trong mỗi giai đoạn 5 năm.

Đối với đơn vị thuộc phạm vi quản lý của bộ: Thủ trưởng đơn vị xây dựng đề án tự chủ, lấy ý kiến các tổ chức tham mưu về tổ chức bộ máy, pháp chế, tài chính và cơ quan liên quan (nếu có); gửi tổ chức tham mưu về tổ chức bộ máy, tài chính thẩm định trước khi báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phê duyệt.

Đối với đơn vị thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã: người đứng đầu đơn vị xây dựng đề án tự chủ, lấy ý kiến các cơ quan chuyên môn về nội vụ, tư pháp, tài chính và cơ quan liên quan (nếu có); gửi cơ quan chuyên môn về nội vụ, tài chính thẩm định trước khi báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã phê duyệt.

Nguồn: Chi tiết tại Nghị định số 299/2026/NĐ-CP

Tin: Đỗ Hồng