Video giới thiệu












Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 23.646.211

Khách Online : 15

Lý luận thực tiễn

Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức, viên chức đối với người dân tộc thiểu số

15:46 08/01/2021 | Lượt xem : 51

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 51
Để thực hiện thành công các vấn đề về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại ở vùng DTTS và miền núi, tạo thế và lực cho cách mạng, vai trò của người cán bộ nói chung, cán bộ DTTS nói riêng được xem là khâu then chốt, trọng yếu và có tính quyết định. 

 

Vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi chiếm gần ¾ diện tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn cư trú của 53 DTTS, chiếm 14,2% dân số cả nước; với 51/63 tỉnh, thành phố, 458 đơn vị cấp huyện và 5.266 đơn vị cấp xã (trong đó xã khu vực I: 1.313 xã, xã khu vực II: 2.018, xã khu vực III: 1.935 xã) và 20.176 thôn/bản đặc biệt khó khăn có đồng bào DTTS sinh sống theo cộng đồng[1]. Đây là các địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh, môi trường sinh thái, có nhiều tiềm năng và lợi thế về nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch, dịch vụ; nhưng cũng là địa bàn nhạy cảm về an ninh chính trị; kinh tế - xã hội, phát triển chậm và không đồng bộ, tỷ lệ hộ nghèo, đói cao nhất cả nước. Để vùng DTTS và miền núi phát triển nhanh hơn trong thời gian tới, rất cần một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu, có tâm với đồng bào DTTS. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở vùng DTTS và miền núi là những người trực tiếp thực hiện và hướng dẫn đồng bào DTTS thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức các cấp ở vùng DTTS và miền núi ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở.

Để thực hiện thành công các vấn đề về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại ở vùng DTTS và miền núi, tạo thế và lực cho cách mạng, vai trò của người cán bộ nói chung, cán bộ DTTS nói riêng được xem là khâu then chốt, trọng yếu và có tính quyết định. Vì vậy qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn có các chủ trương, chính sách trong xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS như: Nghị quyết số 24-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ". Nghị quyết đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là “Ở những địa bàn có đồng bào DTTS, phải có cán bộ lãnh đạo là người DTTS phù hợp với cơ cấu dân cư”.

Căn cứ chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa, từng bước hoàn thiện, bảo đảm cơ chế đổi mới về công tác tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS phù hợp với tình hình thực tiễn. Sau đây là một số ưu điểm đã đạt được và một vài hạn chế trong quy định pháp luậtvề tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS:

1. Những ưu điểm

- Thứ nhất, một trong những nguyên tắc trong tuyển dụng công chức, viên chức được quy định ở Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức là ưu tiên tuyển chọn người DTTS, theo đó người DTTS là đối tượng ưu tiên thứ ba trong thứ tự ưu tiên tuyển dụng công chức, viên chức. Căn cứ nguyên tắc quy định trong Luật, các văn bản hướng dẫn đã cụ thể hóa về điều kiện, nội dung và hình thức ưu tiên trong tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS như:

Tại Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, quy định người DTTS được ưu tiên cộng 20 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển (Điểm b, Khoản 1, Điều 5) hoặc “Đối với vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng DTTS, việc thi môn ngoại ngữ được thay thế bằng thi tiếng DTTS (Khoản 3 Điều 8)”; Nghị định số 29/2012 ngày 12/4/2012 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức cũng ưu tiên về thi ngoại ngữ đối với người DTTS cụ thể “Trường hợp vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc ít người, việc thi ngoại ngữ được thay thế bằng tiếng dân tộc ít người. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc ít người”; bên cạnh đó với “Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển theo thứ tự ưu tiên”, trong đó người DTTS được xác định là đối tượng được ưu tiên thứ 7 trong thứ tự ưu tiên người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức. Tiếp đến làNghị định số 161/NĐ-CP ngày 29/11/2018 sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Tại Nghị định này, người DTTS được ưu tiên cộng 5 điểm vào kết quả thi tại vòng 2 và được miễn thi ngoại ngữ vòng 1 nếu người dự tuyển vào công chức, viên chức công tác ở vùng DTTS là người DTTS hoặc có chứng chỉ tiếng DTTS được cấp có thẩm quyền công nhận.Mới đây nhất, Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2020,Chính phủ đã có quy định trong nội dung kế hoạch tuyển dụng đối với người DTTS là xác định “Số lượng vị trí việc làm cần tuyển đối với người DTTS (nếu có), trong đó xác định rõ chỉ tiêu, cơ cấu dân tộc cần tuyển”.

- Thứ hai, mặc dù không trực tiếp quy định chính sách ưu tiên trong tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS nhưng Luật Giáo dục cũng đã có quy định về chế độ cử tuyển nhằm tạo điều kiện để người DTTS dễ dàng có cơ hội được tuyển dụng vào đội ngũ công chức, viên chức nhà nước.Cụ thể, Luật Giáo dục quy định “1. Nhà nước thực hiện tuyển sinh vào trung cấp, cao đẳng, đại học theo chế độ cử tuyển đối với học sinh là người DTTS rất ít người; học sinh là người DTTS ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS; có chính sách tạo nguồn cử tuyển, tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng này vào học trường phổ thông dân tộc nội trú và tăng thời gian học dự bị đại học. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nhu cầu của địa phương đề xuất, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển; cử người đi học theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu được duyệt; xét tuyển và bố trí việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp. Cơ sở giáo dục có trách nhiệm hỗ trợ cho người học theo chế độ cử tuyển để bảo đảm chất lượng đầu ra. 3. Người học theo chế độ cử tuyển có trách nhiệm trở về làm việc tại địa phương nơi cử đi học; được xét tuyển và bố trí việc làm”. Căn cứ quy định trong Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 và Nghị định số 49/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2006/NĐ-CP, quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và sau khi tốt nghiệp được bố trí việc làm, trong đó tại Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 49/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 đã quy định rõ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc tiếp nhận hồ sơ và xét tuyển hoặc gửi hồ sơ tới các cơ quan, đơn vị dự kiến sử dụng để xét tuyển vào vị trí việc làm theo quy định tại Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức đối với người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp”.

- Thêm vào đó, tại Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BNV-UBDT ngày 11/9/2014 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chính sách cán bộ, công chức, viên chức người DTTS quy định tại Điều 11 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP  ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về công tác dân tộc cũng đã quy định “1. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội; cơ cấu vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; điều kiện, yêu cầu cụ thể của địa phương để tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị đảm bảo tỷ lệ hợp lý, tương ứng với tỷ lệ người DTTS tại địa phương. Ở các địa phương vùng DTTS, nhất thiết phải có cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý là người DTTS. 2. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức; cơ cấu vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế để tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS, đảm bảo tỷ lệ hợp lý”[2]. Đặc biệt, trong tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS, Điều 6 đã quy định: “1. Hàng năm, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của địa phương, trong kế hoạch tuyển dụng phải xác định một tỷ lệ biên chế hợp lý trong tổng số biên chế đã được cấp có thẩm quyền giao để tổ chức tuyển dụng người DTTS vào công chức, viên chức. Tiêu chuẩn, điều kiện dự tuyển và trình tự, thủ tục tổ chức tuyển dụng thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Người DTTS được cử đi học Đại học, Cao đẳng, Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Trung cấp chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp được tuyển dụng không qua thi vào công chức, viên chức và phân công công tác theo quy định tại Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Hàng năm, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào số lượng người DTTS học theo chế độ cử tuyển sẽ tốt nghiệp ra trường để xác định số lượng biên chế dự phòng làm cơ sở tuyển dụng, bố trí vào công chức, viên chức đảm bảo tỷ lệ hợp lý”.

- Ngoài ra, Quyết định số 402/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 về phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS trong thời kỳ mới, cũng đã quy định tỷ lệ % cán bộ, công chức, viên chức người DTTS từ Trung ương đến địa phương trong các cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng và bảo đảm tỷ lệ hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS tham gia vào các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến cơ sở.

 Nhìn chung, công tác xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng công chức, viên chức nói chung và công tác cán bộ, công chức người DTTS nói riêng đã được Chính phủ, các Bộ, ngành quan tâm ban hành, từng bước được hoàn thiện, bảo đảm cơ chế đổi mới về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong giai đoạn hiện nay. Công tác tuyển dụng công chức, viên chức đã được thực hiện đúng quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, bảo đảm công khai, chặt chẽ và phù hợp với tình hình thực tế; đã thực hiện việc ưu tiên cho đối tượng dự tuyển là người DTTS đúng trong các kỳ thi tuyển, xét tuyển.

2. Những hạn chế, khó khăn

- Do chính sách tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị quyết số 39/NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị và Kết luận số 17-KL/TW ngày 11/9/2017 của Bộ Chính trị về tình hình thực hiện biên chế, tinh giản biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2015-2016; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2017-2021 đã ảnh hưởng đến việc bố trí, tuyển dụng sinh viên người DTTS.

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức nói chung nhiều nhưng thiếu cụ thể đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS và còn chậm so với yêu cầu thực tiễn hiện nay, cụ thể:

+ Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BNV-UBDT ngày 11/9/2014 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chính sách cán bộ, công chức, viên chức người DTTS quy định tại điều 11, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc:

Tại Chương II, Điều 4. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị, khoản 1 quy định: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội; cơ cấu vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; điều kiện, yêu cầu cụ thể của địa phương để tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị đảm bảo tỷ lệ hợp lý, tương ứng với tỷ lệ người DTTS tại địa phương; ở các địa phương vùng DTTS, nhất thiết phải có cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý là người DTTS.

Khoản 2 quy định: Các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức; cơ cấu vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế để tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS, đảm bảo tỷ lệ hợp lý.

Tại điều 6 “Tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS”, khoản 1 quy định: Hàng năm, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của địa phương, trong kế hoạch tuyển dụng phải xác định một tỷ lệ biên chế hợp lý trong tổng số biên chế đã được cấp có thẩm quyền giao để tổ chức tuyển dụng người DTTS vào công chức, viên chức. Với các quy định chung chung  như: “đảm bảo tỷ lệ hợp lý”, “nhất thiết phải có cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý là người DTTS”, “tỷ lệ biên chế hợp lý” trong Thông tư do đó các địa phương khó xác định tỷ lệ hợp lý và không quan tâm thực hiện, dẫn đến tình trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS càng ngày càng giảm về số lượng ở tất cả các cấp.

+ Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 và Nghị định số 49/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân:

Tại điều 35 “căn cứ tuyển dụng công chức” của Luật Cán bộ, công chức quy định: Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Tuy nhiên trong xây dựng kế hoạch đào tạo theo chế độ cử tuyển ở các địa phương chưa gắn kế hoạch đào tạo với nhu cầu sử dụng; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn; chỉ tiêu đào tạo chưa cân đối, phù hợp với biên chế được giao; nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp không bố trí được việc làm do không phù hợp với ngành nghề được đào tạo. Chưa rõ trách nhiệm và thiếu sự phối hợp trong quản lý, sử dụng sinh viên cử tuyển sau tốt nghiệp.

- Nhìn chung các chính sách ưu tiên trong thi tuyển và xét tuyển công chức, viên chức người DTTS đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người DTTS khi thi tuyển và xét tuyển, thông qua cộng điểm và ưu tiên về ngoại ngữ, đặc biệt với việc đưa quy định xét tuyển công chức cho nhóm đối tượng. Tuy nhiên, việc quy định chung cho tất cả các nhóm DTTS đã dẫn đến tình trạng các nhóm yếu thế hơn (các dân tộc đặc biệt ít người) khó có thể thi đỗ vào công chức, viên chức.

- Việc triển khai công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời. Đồng thời, một số cấp ủy, lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm tới công tác cán bộ người DTTS. Việc tham gia ý kiến và thực hiện kế hoạch các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác cán bộ, công chức người DTTS của các Bộ, ngành và địa phương còn mang tính hình thức, chưa phát huy được tinh thần trách nhiệm.

- Công tác kiểm tra, báo cáo đánh giá việc thực hiện các chính sách về công tác cán bộ DTTS chưa được chú trọng thường xuyên nên chưa phản ánh, kiến nghị kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách cho phù hợp; tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS chưa tương xứng với tỷ lệ dân số là người DTTS.

- Một số chuyên ngành thiếu công chức, viên chức nhưng không có nguồn để tuyển dụng (bác sỹ, kinh tế, kỹ thuật..); chưa có quy định cụ thể về ưu tiên tuyển dụng, đặc cách với đối tượng thuộc các DTTS rất ít người; kinh phí, chỉ tiêu cho việc thu hút, tuyển dụng cán bộ giỏi còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

- Nguồn nhân lực của một số DTTS rất ít người còn hạn chế, khó khăn trong việc bố trí cán bộ theo vùng, miền và hài hòa giữa các DTTS của địa phương.

Qua việc ra soát hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công tác tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS có thể thấy bên cạnh nhưng ưu điểm cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế. Mặc dù đã có các chính sách ưu tiên trong tuyển dụng nhưng tỷ lệ công chức, viên chức người DTTS hiện vẫn chưa tương xứng với tỷ lệ dân số người DTTS. Do vậy, trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách ưu tiên trong tuyển dụng đối với người DTTS, từng bước nâng cao tỷ lệ công chức, viên chức người DTTS tham gia vào các cơ quan của Nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh của các địa phương trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức, viên chức đối với người dân tộc thiểu số

Thứ nhất, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS tại các văn bản quy phạm dưới luật, bảo đảm cơ sở pháp lý ngày càng đầy đủ hơn cho việc tuyển dụng công chức, viên chức người DTTS như cần có quy định về tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS tham gia vào các cơ quan, tổ chức các cấp theo tỷ lệ dân số là người DTTS theo phân cấp địa giới hành chính tại địa phương. Theo đó, Bộ Nội vụ phối hợp với y ban dân tộc trước mắt nghiên cứu ban hành thông tư hướng dẫn các địa phương xác định tỷ lệ biên chế đối với người DTTS ở từng cấp, từng cơ quan, tổ chức, đơn vị để làm căn cứ tuyển dụng.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện chính sách cử tuyển đối với người DTTS như trong quy định của Luật Giáo dục 2019. Tuy nhiên, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để tạo sự thống nhất giữa cơ quan có thẩm quyền cử với cơ quan có trách nhiệm đào tạo, cơ quan có trách nhiệm xem xét, tuyển dụng theo vị trí việc làm sau khi sinh viên tốt nghiệp ra trường. Đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng CBCC người DTTS phải được quán triệt trong việc thực hiện chính sách cử tuyển cán bộ người DTTS. Đặc biệt, chính sách cử tuyển trong thời gian tới cần chú trọng về phạm vi mục tiêu đào tạo và ưu tiên hơn đến nhóm 16 dân tộc thiểu số rất ít người và 11 nhóm nguồn nhân lực thấp theo hướng đào tạo có địa chỉ và vị trí việc làm. Muốn làm được điều này, cần đẩy mạnh việc hoàn thiện xác định vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí để làm.

Thứ ba, sớm nghiên cứu ban hành chính sách đặc thù tuyển dụng công chức, viên chức đối với người dân tộc thiểu số, nhất là nhóm dân tộc thiểu số rất ít người, nhóm dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn./.

ThS. Nguyễn Thị Trang, Nghiên cứu viên

Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

 

-------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Huy Kiệm (2017) “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số các tỉnh, thành phố khu vực Nam Bộ”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ,  Bộ Nội vụ, Hà Nội.

2. Võ Văn Sỹ (2016), “Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Nguyên”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ,  Bộ Nội vụ, Hà Nội.

 


[1] Số liệu tổng hợp của Ủy ban dân tộc năm 2018 căn cứ trên báo cáo của các địa phương.

[2] Điều 4, Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BNV-UBDT ngày 11/9/2014 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chính sách cán bộ, công chức, viên chức người DTTS quy định tại Điều 11 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ.

Tin khác