Video giới thiệu

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 25.173.503

Khách Online : 23

Lý luận thực tiễn

VAI TRÒ CỦA VIỆN KHOA HỌC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA BỘ NỘI VỤ

15:56 12/05/2022 | Lượt xem : 287

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 287

1. Ngày 18/8/2003, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Quang Trung đã ban hành Quyết định số 46/2003/QĐ-BNV quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước. Theo đó, ngoài nhiệm vụ nghiên cứu, Viện chính thức được Bộ trưởng phân công nhiệm vụ giúp Bộ trưởng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Nội vụ. Việc phân công một tổ chức thực hiện chức năng quản lý hoạt động khoa học của Bộ Nội vụ là một quyết định cần thiết và đúng đắn nhằm phát triển và đưa hoạt động nghiên cứu khoa học đi vào nề nếp, nâng cao chất lượng các sản phẩm nghiên cứu, từ đó cung cấp cơ sở khoa học, phục vụ đắc lực cho các hoạt động quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ.

 

Thực hiện chức năng quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ, Viện khoa học tổ chức nhà nước có nhiệm vụ:

- Quản lý công tác nghiên cứu khoa học của Bộ;

- Là cơ quan thường trực Hội đồng khoa học của Bộ;

- Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển khoa học của ngành;

- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học dài hạn, 05 năm, hàng năm của Bộ, tổ chức thực hiện, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ;

- Chủ trì, phối hợp với đầu mối quản lý khoa học của Ban Tôn giáo Chính phủ; Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương; Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; Học viện Hành chính Quốc gia; Trường Đại học Nội vụ Hà Nội để thực hiện nhiệm vụ đầu mối quản lý khoa học của Bộ;

- Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết công tác nghiên cứu khoa học phục vụ các nhiệm vụ của Bộ, ngành Nội vụ.

2. Là đầu mối giúp Bộ trưởng thống nhất quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) của Bộ, Viện Khoa học tổ chức nhà nước luôn quan tâm, chú trọng việc xây dựng văn bản quản lý hoạt động KH&CN, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý hoạt động khoa học của Bộ, từ đó, hệ thống văn bản quản lý hoạt động KH&CN ngày càng được hoàn thiện làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động khoa học & công nghệ của Bộ Nội vụ đi vào nề nếp.

Trên cơ sở Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, Viện đã tham mưu cho Lãnh đạo Bộ ban hành Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của ngành Nội vụ giai đoạn 2015-2025, các định hướng nghiên cứu xác định trong Chiến lược tập trung vào 02 hướng nghiên cứu chính: Nghiên cứu cơ bản những vấn đề lý luận và thực tiễn của khoa học tổ chức và tổ chức nhà nước và nghiên cứu xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, ngành Nội vụ. Cụ thể, trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của khoa học tổ chức và hoạt động tổ chức nhà nước với tư cách là một khoa học (Đối tượng, phương pháp luận, nhiệm vụ, mối liên hệ với các lĩnh vực khoa học khác, sự phát triển của khoa học tổ chức và tổ chức nhà nước nhà nước, những vấn đề thực tiễn của khoa học tổ chức và tổ chức nhà nước, mối liên hệ giữa khoa học tổ chức nhà nước và công tác tổ chức nhà nước…). Trong lĩnh vực nghiên cứu xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, ngành Nội vụ, tập trung nghiên cứu về các lĩnh vực: Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động công vụ; Quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công; Cải cách hành chính; Quản lý tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ; Văn thư - lưu trữ; Quản lý nhà nước về tôn giáo; Thi đua - khen thưởng; Công tác thanh niên; Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước của ngành Nội vụ.

Hội nghị Hội đồng khoa học Bộ Nội vụ năm 2012

Nhằm đưa hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ đi vào nề nếp, trong những năm qua, Viện đã tham mưu cho Lãnh đạo Bộ xây dựng và ban hành các văn bản quản lý hoạt động khoa học làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý các hoạt động khoa học & công nghệ của Bộ Nội vụ. Quy chế quản lý hoạt động khoa học & công nghệ của Bộ Nội vụ đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2012, 2016, 2018, 2019. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung Quy chếnhằm hoàn thiện thiện quy trình quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, từ khâu đăng ký, xác định nhiệm vụ khoa học & công nghệ, khâu rà soát, lựa chọn, trình phê duyệt Danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến giám sát tiến độ, chất lượng cũng như bảo đảm quy trình nghiệm thu, đánh giá các sản phẩm nghiên cứu khoa học và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nội vụ, Trang thông tin của Viện Khoa học tổ chức nhà nước và hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý các nhiệm vụ khoa học & công nghệ của Bộ Nội vụ.

Hằng năm, căn cứ vào Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, Viện tham mưu cho Lãnh đạo Bộ ban hành Quyết định phê duyệt Danh mục nhiệm vụ KH&CN của Bộ Nội vụ làm cơ sở triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ. Danh mục các nhiệm vụ KH&CN được xác định bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Bộ Nội vụ và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ; chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ngành Nội vụ; nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao và thực tiễn quản lý của Bộ.

Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tư vấn của Hội đồng Khoa học Bộ Nội vụ trong việc tham gia xây dựng chính sách và các chủ trương, quyết định về quản lý khoa học và công nghệ của Bộ, Viện thường xuyên tham mưu Lãnh đạo Bộ ban hành các Quyết định về kiện toàn Hội đồng khoa học Bộ Nội vụ khi có những thay đổi về tổ chức bộ máy và nhân sự của Bộ để phù hợp với thực tiễn.

Viện cũng tham mưu cho Lãnh đạo Bộ ban hành Quyết định số 855/QĐ-BNV ngày 23/5/2018 phê duyệt Chương trình “Xây dựng Cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ”, nhằm xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng Phần mềm Cơ sở dữ liệu quản lý khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ phục vụ công tác quản lý khoa học và nhu cầu khai thác, tham khảo các kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ nhiệm vụ chuyên môn cũng như quản lý nhà nước của các công chức, viên chức Bộ Nội vụ.

3. Trong những năm qua, cơ chế quản lý hoạt động khoa học của Bộ Nội vụ đã có nhiều đổi mới, cụ thể:

- Phương thức giao thực hiện nhiệm vụ KH&CN được đổi mới với việc triển khai thực hiện mô hình tuyển chọn tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN, tạo môi trưởng cạnh tranh công khai, minh bạch tạo động lực thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học của toàn thể công chức, viên chức góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và đảm bảo tiến độ thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của Bộ.

- Quy trình nghiệm thu, đánh giá các kết quả nghiên cứu khoa học & công nghệ ngày càng được tổ chức chặt chẽ: Bổ sung một khâu thẩm định kết quả nghiên cứu trước khi đưa ra tổ chức nghiệm thu cơ sở và nghiệm thu chính thức nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng các sản phẩm nghiên cứu.

- Chú trọng nâng cao tính ứng dụng của các kết quả nghiên cứu khoa học vào phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ thông qua các khâu:

Gửi công văn đề nghị các đơn vị tham mưu quản lý nhà nước của Bộ đặt hàng các nội dung nghiên cứu thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của các đơn vị.

Tham mưu đề xuất vào các Hội đồng: Hội đồng tư vấn, rà soát Danh mục nhiệm vụ khoa học & công nghệ của Bộ; Hội đồng nghiệm thu, đánh giá kết quả nhiệm vụ khoa học & công nghệ các thành viên là lãnh đạo các đơn vị, chuyên viên am hiểu về lĩnh vực quản lý thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài để bảo đảm các nghiên cứu được cập nhật, bám sát thực tiễn, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Bộ.

Quy định chặt chẽ, các kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu chính thức, hoàn thiện, trước khi ra quyết định công nhận đề tài và nộp lưu tại Viện KHTCNN, các chủ nhiệm nhiệm vụ có trách nhiệm chuyển giao kết quả nghiên cứu của mình tới đơn vị tham mưu quản lý thuộc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.

- Đề xuất nhiều giải pháp quyết liệt nhằm giải quyết tình trạng nợ đọng đề tài: Hàng năm vào tháng 3, Viện đều tổ chức cuộc họp giao ban, cam kết tiến độ thực hiện trong năm đối với các chủ nhiệm đề tài, trên cơ sở cam kết của các chủ nhiệm đề tài, Viện thường xuyên gửi công văn đôn đốc đến các chủ nhiệm và tổ chức chủ trì đề tài, quy định rõ trong Quy chế quản lý khoa học của Bộ Nội vụ chế tài về việc chậm tiến độ; đề nghị Hội đồng thi đua khen thưởng của Bộ lấy việc thực hiện đúng tiến độ đề tài làm tiêu chí đánh giá thi đua cuối năm; chủ nhiệm đề tài thực hiện chậm tiến độ sẽ bị xem xét khi đăng ký thực hiện đề tài của những năm sau… Chính vì vậy, cho đến nay, tình trạng nợ đọng đề tài về cơ bản đã được giải quyết.

Chính việc đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý hoat động khoa học và công nghệ ở tất cả các khâu, các công đoạn, đã từng bước cải thiện chất lượng sản phẩm nghiên cứu khoa học; nâng cao tính ứng dụng và khả năng nhân rộng kết quả sau nghiệm thu, góp phần quan trọng vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị cũng như công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ.

4. Viện đã phối hợp tốt với Vụ Kế hoạch – Tài chính trong việc đăng ký, đề xuất kinh phí triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính,  Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Viện cũng phối hợp có hiệu quả với các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ trong việc quản lý và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ, gắn nghiên cứu khoa học với công tác xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật cũng như đào tạo, nghiên cứu, giảng dạy của các đơn vị.

Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân – phát biểu chỉ đạo Hội nghị tổng kết 5 năm hoạt động khoa học và công nghệ (2016-2020) và phương hướng hoạt động khoa học công nghệ (2021-2026) của Bộ Nội vụ

Từ chỗ số lượng các nghiên cứu khoa học còn rất khiếm tốn, mỗi năm chỉ triển khai từ 5 đến 6 đề tài khoa học cấp Bộ (những năm 1990-2010), đến nay, số lượng đề tài khoa học cấp bộ được triển khai hàng năm đã tăng gấp 3-4 lần, mỗi năm trung bình khoảng từ 15 - 25 đề tài. Số lượng đề tài khoa học cấp Bộ được triển khai thực hiện và nghiệm thu qua 30 năm lên đến khoảng 300 đề tài. Nội dung nghiên cứu của các đề tài bao quát tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ: tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động công vụ; quản lý và cung ứng dịch vụ công; cải cách hành chính; quản lý tổ chức xã hôi, tổ chức phi chính phủ; văn thư – lưu trữ; quản lý nhà nước về tôn giáo; thi đua-khen thưởng; công tác thanh niên; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước của ngành Nội vụ.

 Ngoài các đề tài khoa học cấp Bộ, các đơn vị trực thuộc Bộ Nội vụ cũng tích cực triển khai thực hiện các dự án điều tra, khảo sát cấp Bộ. Đến nay, số lượng các dự án được thực hiện và nghiệm thu vào khoảng gần 100 dự án. Kết quả thực hiện các dự án không chỉ tổng hợp, cung cấp thông tin, cập nhật các số liệu điều tra cơ bản, mà còn góp phần cung cấp luận cứ khoa học có giá trị thực tiễn phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng các đề án của Bộ Nội vụ, xây dựng cơ chế, chính sách quản lý nhà nước của Chính phủ và Bộ, ngành.

Viện cũng là đầu mối tổng hợp các đề xuất đặt hàng những vấn đề khoa học và công nghệ ở cấp quốc gia của các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ đăng ký với Bộ Khoa học và Công nghệ. Trong những năm qua, Bộ Nội vụ được Bộ Khoa học và Công nghệ tin tưởng, lựa chọn giao chủ trì thực hiện nhiều nhiệm vụ KH&CN độc lập cấp Quốc gia như: Luận cứ khoa học của việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; Nghiên cứu lý luận về tổ chức nhà nước phục vụ cải cách bộ máy nhà nước giai đoạn 2001-2010; Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương và phụ cấp mới; Nghiên cứu cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam; Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay; Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế; Nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam; Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay… Các đề tài đều tập trung vào những vấn đề cơ bản và cấp bách thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, góp phần cung cấp luận cứ, số liệu và giải pháp có tính khoa học, khả thi cho các cơ quan, đơn vị có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn công tác quản lý nhà nước của Bộ, ngành Nội vụ.

5. Giai đoạn 2021 – 2025 là giai đoạn triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, với việc thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm (2021-2025) của đất nước. Theo đó, toàn ngành Nội vụ tiếp tục tập trung triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ chính trị quan trọng liên quan đến công tác xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, liên quan đến cuộc Csách mạng công nghiệp lần thứ 4 và những tác động đến tổ chức bộ máy nhà nước, tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 -2030, … sẽ tác động và chi phối đến hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ, ngành Nội vụ.

Trong bối cảnh đó, hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ rất cần được quan tâm, tăng cường nhằm đáp ứng và phục vụ có hiệu quả yêu cầu của thực tiễn, triển khai tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ trên các lĩnh vực về cải cách hành chính, chế độ công vụ, công chức, tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; hoạt động sự nghiệp dịch vụ công, hiện đại hóa nền hành chính, cải cách tiền lương, tổ chức bộ đa ngành, đa lĩnh vực, xây dựng chính quyền địa phương ở đô thị và nông thôn; quản lý hội và tổ chức phi chính phủ trong điều kiện hội nhập quốc tế; công tác tôn giáo, lưu trữ và thi đua khen thưởng…. Chính vì vậy hoạt động quản lý khoa học của Bộ cần không ngừng đổi mới, hoàn thiện, từ hoàn thiện các quy định quản lý hoạt động khoa học và công nghệ làm cơ sở triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ; Đổi mới phương thức đăng ký, giao đề tài khoa học và công nghệ, hướng mạnh sang phương thức đặt hàng giao nhiệm vụ, tuyển chọn, đấu thầu thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tăng tính cạnh tranh và nâng cao chất lượng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, theo đúng tinh thần của Luật Khoa học và Công nghệ; Áp dụng cơ chế đặt hàng, đề xuất các vấn đề nghiên cứu từ Lãnh đạo Bộ, các Vụ quản lý chức năng, khắc phục tình trạng các nghiên cứu được phê duyệt chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu bức thiết trong việc cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chính sách, pháp luật của Bộ Nội vụ; Quản lý chặt chẽ quy trình lựa chọn đơn vị, cá nhân đáp ứng năng lực, chuyên môn, có trách nhiệm làm cơ quan chủ trì, chủ nhiệm đề tài khoa học cấp bộ. Đảm bảo sự phối hợp nghiên cứu giữa đơn vị nghiên cứu với các đơn vị chức năng của bộ, để việc cập nhật thông tin, số liệu thực tiễn, các đề xuất, kiến nghị có giá trị ứng dụng đối với thực tiễn quản lý; Thực hiện nghiêm túc trong việc đánh giá, nghiệm thu, thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học của đơn vị, cá nhân. Khắc phục tình trạng nể nang, dễ dãi trong đánh giá, nghiệm thu. Gắn với kết quả nghiên cứu của từng đơn vị, cá nhân theo nhiệm vụ được giao cần phải có hình thức khen thưởng hoặc xử lý thỏa đáng, đúng mức; Nâng cao hiệu quả tư vấn của Hội đồng Khoa học Bộ Nội vụ trong việc tham gia xây dựng chính sách cũng như các chủ trương, quyết định về quản lý khoa học và công nghệ của Bộ. Phát huy hơn nữa vai trò của Hội đồng tư vấn, rà soát Danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ để đề xuất, đưa ra được những vấn đề nghiên cứu cấp thiết, có giá trị khoa học đáp ứng nhu cầu quản lý, hoạch định chính sách của Bộ Nội vụ./.

ThS. Nguyễn Thị Thu Huyền, Trưởng phòng quản lý khoa học, Viện Khoa học tổ chức nhà nước

Tin khác