Video giới thiệu




















Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 23.931.731

Khách Online : 26

Lý luận thực tiễn

ĐỒNG CHÍ VÕ NGUYÊN GIÁP BỘ TRƯỞNG ĐẦU TIÊN CỦA BỘ NỘI VỤ

20:33 20/08/2021 | Lượt xem : 260

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 260

TS. Lê Anh Tuấn

Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước

1.Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Võ Nguyên Giáp

Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn, Hưng, Chiến.

Ông sinh ngày 28-8-1911, trong gia đình một nhà Nho đức độ tại Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Lớn lên ông học ở Quốc học Huế, sau đó ra Hà Nội học ở trường Albert Sarraut. Ông có bằng cử nhân luật.

Từ năm 1925 đến năm 1926, ông tham gia phong trào học sinh ở Huế. Năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Năm 1930, ông bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Sau khi ra tù, ông tiếp tục hoạt động tuyên truyền, gây cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh. Năm 1936, ông hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội. Ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ.

Tháng 6-1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương rồi được Đảng cử ra nước ngoài gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Năm 1941, ông về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng.

Tháng 12-1944, ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tháng 4-1945, tại Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ, ông được cử vào Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ. Từ tháng 5-1945, ông là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng mới, thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân. Tháng 6-1945, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng.

Tháng 8-1945, ông được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, ông được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam; là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Từ năm 1946 đến năm 1986, ông đã được Đảng và Nhà nước tin tưởng và giao giữ nhiều trọng trách quan trọng. Ở cương vị nào, ông cũng có những đóng góp và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.Ông liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến Khóa VII.

Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, hai lần tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (vào các năm 1950 và 1979), Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

2. Những đóng góp của đồng chí Võ Nguyên Giáp khi làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (28/8/1945 - 31/12/1945)

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. 

Tuy nhiên, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn thử thách. Với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, các đội quân đồng minh đã dồn dập kéo vào Việt Nam.

Ở miền Bắc, khoảng 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch, gồm 4 quân đoàn do tướng Lư Hán làm tổng chỉ huy, lũ lượt kéo vào đóng ở Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt-Trung đến vĩ tuyến 16.

Ở miền Nam, tình hình còn nghiêm trọng hơn. Ngoài việc lấy danh nghĩa quân Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân đội Anh còn đồng lõa và giúp cho thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai.

Ngoài lực lượng quân Tưởng, Anh, Pháp trên đất nước ta lúc đó có khoảng 6 vạn quân Nhật. Trong lúc chờ giải giáp, một bộ phận của đội quân Nhật đã được quân Anh sử dụng, đánh vào lực lượng vũ trang của ta, dọn đường cho quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn và nhiều vùng ở miền Nam.

Dựa vào thế lực của quân đội nước ngoài, các lực lượng phản cách mạng trong cả nước đã lần lượt ngóc đầu dậy chống phá chính quyền cách mạng non trẻ. Chưa lúc nào trên đất nước Việt Nam lại có nhiều kẻ thù như vậy. Trong khi, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được một nước nào trên thế giới công nhận; nạn đói năm 1945 vừa kết thúc, đã cướp đi sinh mệnh của 2 triệu đồng bào ta thì nguy cơ một nạn đói mới đang đe dọa dân ta.

Các “di sản” văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân để lại khá nặng nề, hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội cũ như nạn nghiện rượu, hút thuốc phiện, mê tín dị đoan…rất trầm trọng và phổ biến.

Có thể nói, với giặc ngoài, thù trong, khó khăn chồng chất khó khăn đã đè nặng lên đất nước Việt Nam, đặt chính quyền cách mạng trước một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Đứng trước yêu cầu cấp bách phải sớm ổn định tình hình, xây dựng và củng cố Chính quyền cách mạng, biến chính quyền đó thành công cụ đắc lực cho việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng, đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài. Nhiệm vụ cấp bách của chính quyền lúc này là củng cố chính quyền cách mạng, chính thức xác lập quyền hợp hiến; chống thực dân Pháp xâm lược; bài trừ nội phản và cải thiện đời sống nhân dân. Ngày 28-8-1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chính phủ lâm thời gồm 13 Bộ và 15 vị Bộ trưởng[1] do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, trong cơ cấu Chính phủ có Bộ Nội vụ.

Bằng sự thấu hiểu về trình độ và con người của đồng chí Võ Nguyên Giáp trong suốt quá trình cùng tham gia hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin tưởng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trong. Bởi chính quyền của ta lúc đó còn non trẻ, mà nhiệm vụ của Bộ Nội vụ là phải nghiên cứu xây dựng, kiện toàn chính quyền nhà nước các cấp từ cơ sở xã, huyện đến các tỉnh, các kỳ, các thành phố, thị xã từ trung ương đến địa phương trong cả nước. Mặt khác, Bộ Nội vụ không chỉ coi trọng công tác tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và công tác cán bộ chính quyền, công tác thanh tra mà công tác an ninh cũng phải được coi trọng. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lòng tin tưởng đồng chí Võ Nguyên Giáp sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mới với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Ngay sau thành lập, Bộ Nội vụ dưới sự lãnh đạo của đồng chí Võ Nguyên Giáp đã khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời giao qua việc Ông đã tham mưu và trực tiếp ký ban hành một số Sắc lệnh tiêu biểu, thể hiện vai trò quan trọng và có những đóng góp nhất định trong khoảng thời gian làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Một số nhiệm vụ trọng tâm mà Bộ Nội vụ đã thực hiện trong thời gian Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đảm nhận như sau:

 

 

Thứ nhất, tổ chức, xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền cách mạng từ trung ương đến cơ sở.

Ngày 5-9-1945, sau 3 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký một Sắc lệnh mang dấu ấn lịch sử khó phai cho đến tận ngày nay, đó là Sắc lệnh số 05-SL “về việc bãi bỏ cờ Quẻ ly và ấn định Quốc kỳ Việt Nam”. Sắc lệnh gồm 3 điều và một bản phụ kèm, trong đó có các điều khoản quy định rõ về kích thước, hình dáng, màu sắc…của Quốc kỳ Việt Nam. Từ ngày sắc lệnh được ban hành đến nay, lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, biểu tượng của đất nước Việt Nam vẫn không thay đổi và là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam.

Ngày 30-8-1945, sau 2 ngày nhận nhiệm vụ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 01-SL “về việc cử ông Hoàng Minh Giám làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ”. Đây là Sắc lệnh đầu tiên của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp ký để bước đầu hình thành nhân sự chủ chốt cho Bộ Nội vụ còn non trẻ sớm đi vào hoạt động hiệu quả trong điều kiện còn hết sức khó khăn.

Để sớm tổ chức cuộc Tổng tuyển cử, với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp tham mưu chuẩn bị một sắc lệnh thực hiện Tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu trong cả nước, bầu ra Quốc hội để Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Đây là nhiệm vụ bức thiết, khó khăn nhất lúc bấy giờ. Bởi vì, theo tinh thần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải kêu gọi được người hiền tài ra giúp nước. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chính phủ ký sắc lệnh tổ chức Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội: “Tất cả công dân Việt Nam cả trai và gái từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường…”. Có thể nói, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta đã tổ chức thành công là do sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, trong đó có công đóng góp vô cùng to lớn của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp cùng toàn thể cán bộ của Bộ Nội vụ. Đây là một bước phát triển về thể chế dân chủ của nước Việt Nam mới; một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Sau cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội bầu ra được Chính phủ chính thức với nhiều thành viên vừa có đức, vừa có tài, trong đó có nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu đã tham gia. Đây có thể nói là nhiệm vụ xuất sắc đầu tiên của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã tin tưởng giao phó.

Sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức thành công, Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách việc thành lập ban dự thảo Hiến pháp. Mặc dù chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng bằng tài năng của mình cùng sự giúp đỡ của các nhân sĩ yêu nước, giàu kinh nghiệm, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và Ban soạn thảo đã trình Quốc hội thông qua bản Hiến pháp năm 1946 - đây là một Đạo luật cơ bản đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau cách mạng tháng Tám, hệ thống chính quyền cách mạng trong buổi đầu chưa thống nhất đồng bộ. Ở nhiều địa phương, do cán bộ phụ trách thiếu kinh nghiệm, vận dụng sai chính sách đại đoàn kết và tổ chức bầu cử không chặt chẽ, một số phần tử kỳ hào, lý dịch, quan lại, thậm chí cả phần tử phản động đã chui được vào các Ủy ban nhân dân. Trước những khó khăn đó, nhất thiết phải có những biện pháp cụ thể để nhanh chóng khắc phục những yếu kém của các cấp chính quyền địa phương. Chỉ có như vậy, mới củng cố được lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với chính quyền cách mạng, ngăn chặn được âm mưu phá hoại, lật đổ của các thế lực thù địch từ cấp cơ sở.

Trước tình hình đó, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã kịp thời đề xuất những biện pháp để khắc phục khó khăn, nhanh chóng củng cố chính quyền cách mạng cấp cơ sở. Cuối tháng 10-1945, Ban nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương đã được thành lập, do đích thân Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp làm Trưởng ban. Sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, nhờ tài năng và kinh nghiệm của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp và các ủy viên, Ban nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương đã tham mưu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban hành chính (UBHC). Sắc lệnh quy định: “Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu, và là cơ quan đại diện cho nhân dân. Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân bầu ra, và là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho nhân dân, vừa đại diện cho chính phủ”[2].

Cùng với việc nghiên cứu, đề xuất mô hình tổ chức chính quyền trên địa bàn nông thôn, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo xây dựng và trình Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố. Sắc lệnh quy định chi tiết về cách thức tổ chức, quyền hạn, phương thức làm việc của HĐND và UBHC thành phố, cách thức  tổ chức, quyền hạn, phương thức  làm việc của các UBHC khu phố nơi không tổ chức HĐND. Tại mỗi thành phố sẽ đặt 3 cơ quan là HĐND thành phố, UBHC thành phố và UBHC khu phố. Đây có thể được coi là những văn bản pháp lý đầu tiên về tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta và còn nguyên giá trị đến ngày nay.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp còn có những đóng góp to lớn trong xây dựng nền công vụ và đội ngũ công chức phục vụ nhân dân. Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã tham mưu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời để chỉ trong một thời gian ngắn hình thành nên bộ máy của chính quyền cách mạng. Đập tan bộ máy chính quyền thực dân phong kiến ở Đông Dương không có nghĩa là phủ nhận sạch trơn mà phải biết kế thừa những ưu điểm, hạt nhân hợp lý trong những cái bất hợp lý và hạn chế của bộ máy chính quyền cũ, đó là tính chuyên nghiệp, tính chuyên môn hóa, tính kỹ thuật của nền hành chính. 

Với nhận thức sâu sắc như vậy, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã tham mưu cho Chính phủ lâm thời, cũng như Chính phủ liên hiệp kháng chiến tuyển dụng những nhân viên của bộ máy chính quyền cũ có hạnh kiểm, tư cách tốt, có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao vào làm việc tại Bộ Nội vụ và các ngành khác. Điều này thể hiện rất rõ trong Sắc lệnh số 32-SL về bãi bỏ hai ngạch quan hành chính và quan tư pháp. Sắc lệnh quy định: “Ai có năng lực và hạnh kiểm tốt có thể được bổ dụng vào các ngạch khác tùy yêu cầu của công việc”[3].

Để xây dựng đội ngũ công chức phục vụ chính quyền cách mạng, phục vụ nhân dân, tại phiên họp của Hội đồng Chính phủ ngày 24/11/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã đề nghị xây dựng và ban hành quy định chế độ công chức, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng nền công vụ và đội ngũ công chức phục vụ nhân dân.

Sau khi Chính phủ lâm thời cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời (ngày 1-1-1946), ngày 19-1-1946, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Nghị định số 14/NV về quy định tổ chức của Bộ Nội vụ. Theo Nghị định này, Bộ Nội vụ bao gồm Bộ trưởng, Đổng lý Văn phòng, Chánh Văn phòng. Cơ quan Bộ có hai bộ phận: Văn phòng và các Nha[4]. Như vậy, sau khi thành lập, Nghị định số 14/NV do Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp ký là Nghị định đầu tiên quy định về tổ chức của Bộ Nội vụ.

Thứ hai,bảo đảm an ninh chính trị, trị an.

Chính phủ lâm thời thời kỳ đầu không có Bộ Công an, mà ngành Công an nằm trong Bộ Nội vụ, lúc đầu do Nha Liêm phóng (sau đổi thành Nha Công an) phụ trách.

Để giữ an toàn cho ngày Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 03-SL, tuyên bố “thiết quân luật tại Hà Nội”, trong đó có điều khoản cấm đi lại trên phố từ 12 giờ đêm 6 giờ sáng và không ai được mang khí giới, trừ những người có giấy phép.

Nhằm ổn định tình hình chính trị trong nước, ngày 05-9-1945 thay mặt Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 8-SL về việc giải tán “Đại Việt quốc gia xã hội Đảng” và “Đại Việt quốc dân Đảng”.

Ngày 24/9/1945, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã ký nghị định cải tổ Ty Liêm phóng theo nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa. Công tác an ninh chính trị ngay từ những buổi đầu khi chính quyền cách mạng ra đời hết sức nặng nề và phức tạp, phải đấu tranh quyết liệt chống thù trong giặc ngoài. Chính trong lĩnh vực công tác quan trọng này, Bộ Nội vụ và cá nhân Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã có những đóng góp to lớn. 

Trước hết, là công tác điều tra, khám phá và ngăn chặn kịp thời âm mưu và hành động chống phá chế độ mới, làm phương hại đến độc lập, tự do của Tổ quốc. Bên cạnh việc tham mưu giải tán các tổ chức phản cách mạng, để đảm bảo công tác trị an trong cả nước, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo Bộ Nội vụ thực hiện sắc lệnh của Chính phủ giao cho Ty Liêm phóng bắt giữ những người nguy hiểm đến nền dân chủ đưa đi an trí; thiết lập tòa án quân sự để kịp thời xét xử bọn phản cách mạng, tội phạm làm phương hại đến nền độc lập của đất nước. 

Những thành quả trong cuộc đấu tranh chống bọn phản cách mạng ở trong nước và ngoài nước không thể tách rời sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp trong việc tổ chức chặt chẽ hệ thống ngành Công an vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở. Kết quả mà Bộ Nội vụ đã đạt được trên lĩnh vực bảo vệ an ninh chính trị và an toàn xã hội là vô cũng to lớn “vừa từng bước đấu tranh kiên quyết và khôn khéo, đập tan các âm mưu bắt cóc, ám sát cán bộ, gây bạo loạn lật đổ của nhiều thế lực Việt gian phản động được các thế lực ngoại xâm ủng hộ, vừa đóng vai trò trong việc vận động xây dựng chính quyền, xây dựng cuộc sống mới, bài trừ các tệ nạn xã hội và chống tội phạm hình sự”[5]. Thắng lợi trong công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự xã hội thời kỳ đầu đã góp phần to lớn vào việc củng cố chính quyền cách mạng, khẳng định uy tín và tính ưu việt của chính quyền dân chủ nhân dân.

Thứ ba, bãi bỏ các loại thuế vô lý, thực hiện nhiệm vụ diệt dốt và đoàn kết toàn dân.

Thuế thân hay còn được gọi là thuế đinh, thuế đầu người hay sưu là một trong nhiều thứ thuế của chế độ phong kiến nhưng được chính quyền Pháp giữ nguyên và tăng mức thu lên trong thời gian cai trị. Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta đã đập tan chính quyền cai trị Pháp và phong kiến tay sai, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ quân chủ tồn tại hàng ngàn năm, chế độ thuộc địa nửa phong kiến sụp đổ. Ngày 03-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế: thuế thân, thuế chợ, thuế đò và “tuyệt đối cấm hút thuốc phiện”. Ngày 07-9-1945, thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 11-SL về việc bãi bỏ thuế thân, vì “thuế thân là một thứ thuế vô lý, trái ngược với tinh thần chính thể Cộng hòa Dân chủ”, việc bãi bỏ nhằm “đỡ gánh nặng cho dân chúng và hợp với công lý”.

Di sản sau 80 năm cai trị Việt Nam dưới chiêu bài “khai hóa văn minh” của chính quyền thực dân Pháp là: sản xuất đình đốn, nạn đói hoành hành làm gần 2 triệu người chết đói, hơn 90% dân số mù chữ, tài chính quốc gia trống rỗng. Do vậy, ngày 08-9-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký ban hành 3 sắc lệnh: Sắc lệnh 12-SL về tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội; Sắc lệnh số 19-SL về việc thiết lập những lớp bình dân học vụ buổi tối cho nông dân và thợ thuyền; Sắc lệnh số 20-SL về việc bắt buộc học chữ quốc ngữ và không mất tiền cho tất cả mọi người. Theo đó, tại khoản 2, Sắc lệnh số 19-SL nêu rõ: “Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên tám tuổi phải biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ. Quá hạn đó, một người dân Việt Nam nào trên tám tuổi mà không biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ sẽ bị phạt tiền”.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp còn ký những Sắc lệnh được coi như một bằng chứng của chính sách đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Sắc lệnh số 21-SL ngày 08-9-1945 “về việc cử ông Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha lưu trữ công văn và thư viện toàn quốc”; Sắc lệnh số 23-SL ngày 10-9-1945 về việc cử ông Vĩnh Thụy làm Cố vấn Chính phủ Lâm thời dân chủ cộng hòa. Đây là những sắc lệnh thể hiện sinh động trong chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ có nhiều phe cánh, đảng phái chính trị.

Ngoài ra,trong khoảng thời gian đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ông còn thừa lệnh Chủ tịch nước ký nhiều Sắc lệnh đóng góp rất lớn về vấn đề tôn giáo của nhân dân, đó là: Bảo vệ, duy trì những đền chùa, miếu mạo. Đây là hành động bảo vệ tôn giáo, bảo vệ sự tự do tín ngưỡng của nhân dân, bảo vệ danh lam thắng cảnh của đất nước.

Thời gian sau này, mặc dù không còn là Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhưng đồng chí Võ Nguyên Giáp vẫn thường xuyên quan tâm, theo dõi về quá trình xây dựng, phát triển của Bộ Nội vụ, Ông đã có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết với lãnh đạo Bộ Nội vụ qua các thời kỳ, đặc biệt là việc ủng hộ và nhất trí cao với việc lập lại Bộ Nội vụ (Tháng 8/2002) với những chức năng, nhiệm vụ quan trọng về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Tổ chức chính quyền địa phương, quản lý địa giới hành chính; Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; Tổ chức hội và tổ chức phi Chính phủ Văn thư, lưu trữ nhà nước…

3. Kết luận

Có thể nói, tuy thời gian làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ của đồng chí Võ Nguyên Giáp không lâu (từ ngày 28-8-1945 đến ngày 31-12-1945), lại trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của nhà nước non trẻvà tuổi đời cũng còn rất trẻ (34 tuổi) nhưng Ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng và trao quyền. Với cương vị là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên, một Bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, đảm nhận những nhiệm vụ có tính chất nội trị quốc gia; bằng tài năng, đức độ của mình, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tham mưu cho Chính phủ ban hành 100 sắc lệnh, trong đó có 30[6]sắc lệnh do ông trực tiếp ký có tính chất pháp quy về nhiều lĩnh vực như chỉ đạo giải tán các tổ chức chính trị phản động, xóa bỏ các chếđộ, chính sách của chính quyền thực dân phong kiến; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự trị an, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân. Các Sắc lệnh ông ký đã mang lại lợi ích to lớn cho một chính quyền cách mạng còn non trẻ với thù trong, giặc ngoài như thiết quân luật ở Hà Nội, quy định về Quốc kỳ, mở cuộc Tổng tuyển cử…Có thể nói, với những quyết định mang tính kịp thời và quyết liệt của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp vào đúng thời điểm đã mang lại dấu ấn riêng của Bộ Nội vụ. Điều này cho thấy quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi quyết định đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ là hoàn toàn hợp lý trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng[7].

Tóm lại, đồng chí Võ Nguyên Giáp - vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên đức độ, đáng kính là người đặt nền móng trong việc xây dựng Bộ Nội vụ và ngành Nội vụ với những nhiệm vụ quan trọng về củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng đất nước; bảo vệ thành quả cách mạng. Nhìn lại lịch sử, những cán bộ, công chức, viên chức công tác trong ngành Nội vụ luôn tự hào về vị Bộ trưởng vô cùng đáng kính và nguyện học tập theo tấm gương đạo đức, sự hy sinh cống hiến quên mình của Ông, quyết tâm xây dựng ngành Nội vụ vững mạnh, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

 

Tài liệu tham khảo

1.Lịch sử Chính phủ Việt Nam,tập 1. H. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2008.
2.Lịch sử Bộ Nội vụ, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005.
3.Biên niên Lịch sử Bộ Nội vụ, Nxb Đại học Sư phạm, 2007.
4. Bộ Nội vụ 65 năm xây dựng và phát triển (1945-2010). H. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2010.
5. Sưu tập Sắc lệnh của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945. H. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011.
6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong mắt các học giả quốc tế. Xem: https://vnexpress.net, ngày 25/10/2013.
7.101 khoảnh khắc về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. H. Nxb. Hà Nội, 2011.
8.Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1945, 1946.

9.Cống hiến to lớn của đồng chí Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ trong xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân,PGS.TS Văn Tất Thu. Xem: https://tcnn.vn/news/detail/48337.

 
 

[1] Thành phần của Chính phủ lâm thời được công bố trên Việt Nam Dân quốc công báo số 1, ngày 29-9-1945.

[2] Việt Nam dân quốc công báo, số 01/1945.

[3]Việt Nam dân quốc công báo, số 01/1945.

[4] Việt Nam Dân quốc công báo, số 4, ngày 26-1-1946, tr.45.

[5] (10) Xem: Lịch sử Bộ Nội vụ, Nxb CTQG, H.2005, tr.48.

[6]Sưu tập Sắc lệnh của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945. H. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011.

[7]Việt Nam Dân quốc công báo, số 1, ngày 29-9-1945, tr. 2.                            

Tin khác