TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Chương III: CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA VIỆN

Điều 11. Chế độ lập và triển khai kế hoạch công tác

1. Căn cứ vào chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học dài hạn và hàng năm của Bộ, nhiệm vụ trọng tâm của Bộ giao trong năm, Viện trưởng quyết định kế hoạch công tác năm, 6 tháng và hàng quý của Viện (bao gồm kế hoạch triển khai các đề án, dự án, đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học và các kế hoạch công tác khác), phân công cho các đơn vị, cá nhân trong Viện thực hiện và đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch công tác đó.

2. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng kịp thời báo cáo và xin ý kiến lãnh đạo Bộ điều chỉnh lại kế hoạch công tác của Viện cho phù hợp với tình hình thực tế.

Điều 12. Chế độ báo cáo

1. Báo cáo định kỳ, báo cáo chuyên đề hoặc báo cáo đột xuất của Viện gửi lãnh đạo Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan thực hiện theo quy chế làm việc của Bộ và các quy định của các Bộ ngành hữu quan do Phòng tổng hợp trình lãnh đạo Viện phê duyệt hoặc ký. Riêng báo cáo về quản lý khoa học và kết quả nghiên cứu khoa học do Phòng quản lý khoa học chuẩn bị.

2. Vào ngày thứ Năm hàng tuần, ngày 17 hàng tháng, ngày 17 tháng cuối cùng của quý, ngày 20 tháng 6 và ngày 20 tháng 12 hàng năm, các đơn vị gửi báo cáo về tình hình thực hiện công việc của đơn vị mình cho Phòng Tổng hợp biên tập thành báo cáo của Viện, trình lãnh đạo Viện ký, gửi cho lãnh đạo Bộ và phục vụ giao ban công tác tuần, tháng, quý và Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và Hội nghị tổng kết công tác năm của Viện.

3. Báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch tháng, quý, năm gửi về Phòng kế hoạch tài chính theo thời gian cuối tháng, cuối quý, ngày 20 tháng 6, ngày 20 tháng 12 hàng năm.

4. Các báo cáo định kỳ (tuần, tháng, quý, năm, chuyên đề, đột xuất) và các báo cáo thực hiện kế hoạch của các đơn vị gửi cho Phòng tổng hợp, Phòng kế hoạch tài chính phải đảm bảo đúng thời gian quy định tại khoản 2,3 điều này, phải nêu được nội dung công việc chủ yếu đã thực hiện trong tuần, tháng, quý, 6 tháng đầu năm, cả năm, dự kiến công việc thực hiện trong tuần, tháng, quý, 6 tháng đầu năm, cả năm tới và nêu được những kiến nghị, đề xuất cụ thể, các báo cáo do thủ trưởng các đơn vị ký. Trưởng phòng Kế hoạch tài chính, Trưởng phòng Tổng hợp chịu trách nhiệm về chất lượng và độ chính xác của báo cáo kế hoạch, báo cáo tổng hợp do Phòng mình chuẩn bị.

5. Phó Viện trưởng, cấp trưởng các đơn vị và từng cán bộ, công chức, viên chức trong Viện có trách nhiệm thường xuyên báo cáo công tác với viện trưởng và phối hợp với người phụ trách công tác trực tiếp của mình về tình hình tiến độ, những vướng mắc trong quá trình giải quyết công việc, kết quả thực hiện các công việc được giao.

6. Chủ  nhiệm các đề tài do Viện quản lý có trách nhiệm báo cáo Viện trưởng tiến độ, kết quả thực hiện và tình hình sử dụng kinh phí của đề tài theo các quy định về quản lý khoa học và quản lý tài chính  hiện hành.

7. Các công việc, các chương trình, dự án do Viện chủ trì Viện trưởng giao cho các phòng, Trung tâm thực hiện theo chế độ khoán sản phẩm và công khai thu nhập tiền lương theo sản phẩm.

Điều 13. Chế độ thông tin

1. Lãnh đạo Viện đảm bảo thông tin thường xuyên cho cán bộ, công chức, viên chức, của Viện về công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn được giao phụ trách.

2. Viện trưởng có trách nhiệm thông tin công khai cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện về những nội dung quy định tại điều 21 và 22 Quy chế dân chủ trong hoạt động của các cơ quan khoa học và công nghệ ban hành kèm theo quyết định số 2265/1999/QĐ-BKHCNVMT ngày 30/12/1999 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, thông tin về các nội dung quy định trong Quy chế Dân chủ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Điều 14.  Chế độ bảo mật

Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện có trách nhiệm thực hiện chế độ bảo mật và chế độ phát ngôn theo quy định hiện hành của pháp luật và của Bộ.

Điều 15. Chế độ hội họp

1. Các cuộc họp của Viện:

a) Giao ban công tác tuần: thời gian giao ban vào thứ hai hàng tuần, thành phần gồm Lãnh đạo Viện, cấp trưởng các đơn vị thuộc Viện. Trường hợp người đứng đầu các đơn vị đi vắng, cấp phó cho người đứng đầu các đơn vị được uỷ quyền dự thay. Trong họp giao ban tuần người đứng đầu các đơn vị có trách nhiệm báo cáo tình hình công việc thực hiện trong tuần, nhiệm vụ tuần tới, các kiến nghị đề xuất; Lãnh đạo Viện nhận xét bổ sung; Viện trưởng nhận xét, kết luận và giao các nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung giải quyết trong tuần tới cho các đơn vị và cá nhân thực hiện. Trường hợp cần thiết giao ban mời các cấp phó các đơn vị tham gia;

b) Giao ban công tác tháng: thời gian sau buổi giao ban vào sáng thứ hai tuần đầu tiên của tháng, thành phần dự gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện. Trong giao ban công tác tháng, Viện trưởng trình bày báo cáo công tác tháng của Viện do Phòng tổng hợp chuẩn bị; Lãnh đạo Viện, lãnh đạo và cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên các đơn vị phát biểu bổ sung; sau thảo luận, Viện trưởng kết luận các công việc trọng tâm và giao cụ thể cho các đơn vị và cá nhân thực hiện trong tháng.

c) Họp sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và tổng kết công tác năm: thời gian theo quy định của Bộ. Thành phần dự gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện và khách mời. Trong cuộc họp, Lãnh đạo Viện trình bày các báo cáo. Sau phần thảo luận góp ý của cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện và khách mời, Viện trưởng tổng kết, kết luận và nêu các nhiệm vụ chủ yếu Viện cần tập trung thực hiện trong 6 tháng cuối năm và trong năm tới. Việc tổ chức họp tổng kết công tác năm kết hợp với tổ chức hội nghị cán bộ công chức, viên chức hàng năm thì nội dung và phương pháp tổ chức phải thực hiện theo quy định của Bộ.

d) Các cuộc họp đột xuất do Viện trường triệu tập khi thấy cần thiết; thời gian họp giao ban tuần, tháng nêu trên có thể thay đổi. Trường hợp thay đổi, Lãnh đạo viện sẽ thông báo cụ thể.

e) Chuẩn bị các cuộc họp, giao ban của Viện: Trưởng phòng tổng hợp có trách nhiệm chuẩn bị các báo cáo và các văn bản cần phổ biến tại các cuộc họp, giao ban, thông báo mời cán bộ, công chức, viên chức thuộc thành phần dự; ghi biên bản, lập hồ sơ các cuộc họp, làm thông báo kết luận cuộc họp, giao ban theo kết luận của Lãnh đạo Viện.

2. Các cuộc họp định kỳ, đột xuất của các đơn vị thuộc Viện:

a) Họp kiểm điểm công tác trong tuần. Các đơn vị thuộc Viện họp kiểm điểm công tác trong tuần sau giao ban của Viện, thời gian từ 30-45 phút để nhận xét, đánh giá công việc của đơn vị trong tuần, phổ biến, phân công công việc cho cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên trong tuần. Trường hợp vì quá bận không họp được thì cấp trưởng hoặc phụ trách đơn vị có trách nhiệm phổ biến, phân công công việc cho từng cán bộ, công chức, viên chức, nghiên cứu viên, nhân viên của đơn vị mình thực hiện trong tuần.

b) Họp kiểm điểm công tác tháng: các đơn vị thuộc Viện họp định kỳ vào cuối tháng để kiểm điểm việc thực hiện công việc trong tháng, xác định nhiệm vụ kế hoạch và biện pháp thực hiện công tác trong tháng tới, thành phần dự gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của đơn vị và đồng chí lãnh đạo Viện phụ trách đơn vị được mời họp để theo dõi nắm bắt tình hình và chỉ đạo công tác của đơn vị.

c) Họp sơ kết công tác 6 tháng đầu năm: các đơn vị tổ chức họp sơ kết công tác 6 tháng đầu năm để kiểm điểm công tác và đề ra nhiệm vụ và giải pháp thực hiện kế hoạch công tác 6 tháng cuối năm. Thời gian họp theo quy định của Viện trưởng, thành phần tham dự gồm cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và đồng chí Lãnh đạo Viện phụ trách được mời để theo dõi, nắm bắt tình hình và chỉ đạo công tác của đơn vị.

d) Họp tổng kết công tác năm: các đơn vị tổ chức họp tổng kết công tác năm theo kế hoạch của Viện để kiểm điểm công tác năm và đề ra nhiệm vụ công tác năm tới. Đồng thời tiến hành kiểm điểm, phân loại, đánh giá bình xét thi đua của đơn vị và của từng cá nhân theo hướng dẫn của Bộ. Thành phần dự họp gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của đơn vị và đồng chí lãnh đạo Viện phụ trách. Đồng chí lãnh đạo Viện  phụ trách dự họp để chỉ đạo cuộc họp và kiểm điểm, xin ý kiến, nhận xét góp ý kiến của các cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của đơn vị phụ trách về bản kiểm điểm phân loại đánh giá của mình theo quy định của bộ.

e) Ngoài các cuộc họp định kỳ, các đơn vị có thể tổ chức các cuộc họp đột xuất theo yêu cầu của Lãnh đạo Viện để giải quyết công việc đột xuất, thành phần dự các cuộc họp đột xuất do cấp trưởng các đơn vị quyết định.

3. Lãnh đạo Viện, ban Chi uỷ, Ban Chấp hành Công đoàn giao ban liên tịch 6 tháng một lần.

4. Các cuộc họp định kỳ, đột xuất của Ban chi uỷ, Chi bộ, công đoàn, đoàn thanh niên, phụ nữ của Viện trong giờ hành chính phải báo cáo Viện trưởng và được sự nhất trí của Viện trưởng mới tổ chức họp.

5. Tổ chức các Hội nghị, hội thảo khoa học, các cuộc nghiệm thu đề án, dự án, đề tài chương trình nghiên cứu khoa học.

a) Việc tổ chức các Hội nghị, hội thảo khoa học, các cuộc nghiệm thu đề án, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học do Viện chủ trì thực hiện theo kế hoạch do các đơn vị chức năng của Viện đề xuất, Viện trưởng phê duyệt:

b) Phân công thực hiện các Hội nghị, cuộc họp cụ thể như sau:

- Các phòng chức năng theo sự  phân công của Viện trưởng chuẩn bị nội dung, bao gồm việc chuẩn bị kế hoạch chung, các báo cáo, tài liệu, danh sách mời, giấy mời, chương trình, kết luận, biên bản hội nghị.

- Phòng kế hoạch tài chính chịu trách nhiệm lập kế hoạch kinh phí và quyết toán cho các cuộc họp, hội thảo khoa học;

- Phòng Tổng hợp chịu trách nhiệm về các công việc liên quan đến hành chính quản trị, phục vụ hội nghị, các cuộc nghiện thu đề tài, dự án cuộc họp như: xác định địa điểm, thời gian, kinh phí, in ấn tài liệu, văn bản liên quan đến hội nghị, phát hành giấy mời, phân phát tài liệu văn bản, chế độ cho các đại biểu, lập hồ sơ hội nghị, cuộc họp; lo phương tiện đi lại, bố trí chỗ ăn ở cho các đại biểu dự hội nghị nếu hội nghị, cuộc họp tổ chức ngoài trụ sở của Bộ.

Điều 16. Chế độ sinh hoạt khoa học

1. Viện khuyến khích, duy trì hoạt động sinh hoạt khoa học và công nghệ nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo trong công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức của Viện.

2. Hoạt động sinh hoạt khoa học bao gồm các hình thức:

a) Sinh hoạt theo chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu; thông tin những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý của bộ, của ngành, các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ;

b) Báo cáo tóm tắt luận án thạc sĩ, tiến sĩ mới bảo vệ của cán bộ, công chức, viên chức, nghiên cứu viên trong Bộ và trong Viện.

3. Sinh hoạt khoa học định kỳ mỗi quý một lần, tổ chức trong phạm vi toàn Viện. Sinh hoạt khoa học đột xuất trong toàn Viện do Viện trưởng chủ động tổ chức, hoặc quyết định trên cơ sở xem xét đề xuất của cán bộ, công chức, viên chức, của Viện. Hình thức sinh hoạt chủ yếu là toạ đàm và hội thảo khoa học.

Điều 17. Chế độ  phối hợp công tác

1. Cấp trưởng, cấp phó và cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của các đơn vị thuộc Viện có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong thực hiện những nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ chung của Viện.

2. Trên cơ sở phân công, giao việc của Viện trưởng, Thủ trưởng các đơn vị được giao chủ trì có trách nhiệm trao đổi, bàn bạc, thoả thuận và phối kết hợp chặt chẽ với thủ trưởng các đơn vị được chỉ định tham gia để thực hiện. Trong quá trình thực hiện công việc nếu có những điểm các bên chưa thống nhất cần báo cáo lãnh đạo Viện để giải quyết kịp thời.

3. Trong triển khai thực  hiện công việc được giao, cấp trưởng các đơn vị có thể mời cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị trong Viện tham gia giải quyết nhưng  phải xin ý kiến Viện trưởng và được cấp trưởng đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó đồng ý.

Điều 18. Chế độ quản lý văn bản, hồ sơ tài liệu

1. Tất cả cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện có trách nhiệm quản lý, lưu trữ các loại công văn, hồ sơ, tài liệu thuộc lĩnh vực công tác được giao theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước về lưu giữ bảo quản, sử dụng hồ sơ, tài liệu.

2. Chế độ quản lý công văn tài liệu chung của Viện:

a) Xử lý công văn đến của Viện: Tất cả công văn đến của viện đều phải chuyển cho Phòng tổng hợp, đóng dấu đến, vào sổ theo dõi và chuyển cho Viện trưởng hoặc phó Viện trưởng được uỷ quyền xem xét xử lý. Sau khi có ý kiến của Lãnh đạo Viện, Phòng tổng hợp chuyển giao kịp thời công văn đến cho Thủ trưởng các đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức được phân công , đồng thời có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc thực hiện và thu hồi, lập hồ sơ theo quy định hiện hành chế độ văn thư và yêu cầu của Viện trưởng.

b) Xử lý văn bản đi của Viện

 Văn bản đi của Viện (công văn, báo cáo, thông báo, quyết định, biên bản, hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động...) do các đơn vị thuộc Viện soạn thảo theo chức năng, nhiệm vụ và theo sự phân công của Viện trưởng khi trình Viện trưởng hoặc phó Viện trưởng ký phải có tờ trình kèm theo, thủ trưởng các đơn vị trình phải ký trên tờ trình và ký nháy vào sau chữ cuối cùng của văn bản. Trước khi gửi đi phải đóng dấu, đăng ký vào sổ và làm các thủ tục gửi đi và lưu văn thư theo đúng quy định hiện hành chế độ văn thư nhà nước; tờ trình văn bản lưu cùng với bản gốc của văn bản.

c) Việc quản lý lưu trữ và khai thác tài liệu đi, tài liệu đến của Viện thực hiện theo các quy định hiện hành của pháp luật về quản lý tài liệu lưu trữ.

d) Con dấu của Viện do Trưởng phòng tổng hợp phân cho một cán bộ làm công tác văn thư quản lý và sử dụng theo quy định hiện hành về quản lý và sử dụng con dấu.

3. Chế độ đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

a) Việc đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện theo quyết định số 03/2007/QĐ-BKHCN ngày 16/03/2007 về việc ban hành Quy chế đăng ký lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Phòng quản lý khoa học chủ trì, phối hợp với  Trung tâm Thông tin và Thư viện,Phòng kế hoạch tài chính, Phòng tổng hợp giúp Viện trưởng thực hiện nhiệm vụ này.

b) Hồ sơ, tài liệu của các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học (bao gồm từ bản thuyết minh, đăng ký, hợp đồng, thanh lý hợp đồng, các báo cáo kết quả nghiên cứu, biên bản nghiệm thu cơ sở, nghiệm thu chính thức, tài liệu tài chính, hoá đơn, chứng từ liên quan đến đề tài, biên bản giao hồ sơ...) phải bảo quản và lưu giữ theo quy định hiện hành về quản lý khoa học và lưu trữ tài liệu khoa học công nghệ; lưu đầy đủ 01 bộ ở phòng Kế hoạch tài chính, 01 bộ gồm thuyết minh đề tài, hợp đồng, thanh lý hợp đồng, các báo cáo kết quả, biên bản nghiệm thu chính thức tại phòng quản lý khoa học; báo cáo tổng hợp, báo cáo tóm tắt của đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học sau khi nghiệm thu phải chuyển cho Trung tâm Thông tin và Thư viện của Bộ 01 bộ. Việc gửi hồ sơ, tài liệu của các đề tài khoa học cấp Bộ, cấp nhà nước độc lập cho Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện theo các quy định hiện  hành về quản lý khoa học.

c) Tất cả hồ sơ tài liệu liên quan đến các đề án, dự án do Viện thực hiện phải lưu đầy đủ ở phòng Kế hoạch tài chính.

d) Việc khai thác hồ sơ tài liệu của các đề án dự án các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học chưa nghiệm thu bảo quản tại Viện phải được sự cho phép của Viện trưởng và phải tuân theo các quy định của Luật bản quyền tác giả và luật công bố, phát hành sách.

Điều 19. Thẩm quyền ký văn bản

1. Về nguyên tắc, Viện trưởng ký tất cả các văn bản do viện phát hành: ký tờ trình và ký nháy các văn bản do Viện soạn thảo trình lãnh đạo Bộ ký ban hành; thừa lệnh Bộ trưởng ký ban hành các văn bản của Bộ theo quy định trong Quy chế làm việc của Bộ; ký các hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế khoa học, hợp đồng lao động, ký các văn bản liên quan đến tài chính, kế toán, tài sản, đầu tư, sửa chữa thường xuyên và các hoá đơn chứng từ chi tiêu hàng ngày của Viện.

2. Phó Viện trưởng ký thay Viện trưởng các báo cáo tuần, tháng, quý, 6 tháng đầu năm gửi Văn phòng Bộ, các văn bản hành chính thông thường giao dịch với các cơ quan bên ngoài khi Viện trưởng đi váng hoặc theo sự uỷ quyền của Viện trưởng (như các công văn giao dịch, các giấy mời họp, giấy đi công tác của cán bộ, công chức, viên chức của Viện....)

3. Trưởng phòng tổng hợp được ký thừa lệnh Viện trưởng các văn bản hành chính thông thường (công văn giao dịch, các báo cáo giao ban tuần, tháng, quý gửi Văn phòng Bộ) khi lãnh đạo Viện đi công tác vắng.

Điều 20. Chế độ quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và lao động hợp đồng của Viện

1. Việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên của Viện thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Ký hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động, hợp đồng giao khoán công việc thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành.

3. Việc đánh giá, nhận xét cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.

4. Hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện được quản lý chặt chẽ theo quy định hiện hành.

 

Điều 21. Chế độ quản lý giờ, ngày công và kỷ luật lao động

1. Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện thực thi nhiệm vụ phải bảo đảm giờ, ngày công, chất lượng và kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật hiện hành và theo các quy định trong quy chế làm việc của Bộ và của Viện.

2. Cán bộ, công chức, viên chức được Viện trưởng cử tham gia những hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác trong và ngoài Bộ phải xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện về nội dung dự kiến thảo luận, có trách nhiệm báo cáo với Viện trưởng nội dung cuộc họp và nộp lại cho Viện tài liệu của cuộc họp. Trường hợp các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Bộ mời tham gia các hội thảo, hội nghị, hợp đồng vụ việc thuộc thời gian hành chính do Viện quản lý thì phải báo cáo và được Viện trưởng đồng ý mới được tham gia nhưng phải hoàn thành công việc được Viện giao và phải tuân thủ theo các quy định của Luật cán bộ, công chức; pháp luật về viên chức và các quy định trong quy chế làm việc của Bộ, của Viện.

3. Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện khi nghỉ do ốm đau, nghỉ phép, nghỉ theo chế độ, nghỉ giải quyết việc riêng dưới 3 ngày phải báo cáo cấp trưởng đơn vị để cấp trưởng đơn vị bố trí người thay thế giải quyết công việc nếu cần thiết; nghỉ phép, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng từ 3 ngày trở lên phải có đề nghị bằng văn bản gửi Viện trưởng để Viện trưởng xem xét giải quyết. Cấp trưởng cấp phó các đơn vị nghỉ phải được lãnh đạo Viện đồng ý.

Điều 22. Chế độ đi công tác

1. Viện trưỏng đi công tác trong và ngoài nước, nghỉ phép, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng phải báo cáo xin phép Bộ trưởng theo các quy định trong Quy chế làm việc của Bộ.

2. Phó Viện trưởng, cấp trưởng, phó cấp trưởng các đơn vị thuộc Viện đi họp trong và ngoài cơ quan (đi họp theo giấy mời của các đơn vị thuộc Bộ và của các cơ quan, đơn vị ngoài Bộ theo chỉ định của Lãnh đạo  Bộ), đi công tác phải báo cáo Viện trưởng.

3. Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên các đơn vị thuộc Viện đi công tác phải xin phép và phải báo cáo thủ trưởng các đơn vị về nội dung chuyến đi công tác.

4. Cán bộ, công chức, viên chức đi công tác địa phương theo các đoàn do Phó Viện trưởng, cấp trưởng các đơn vị thuộc Viện làm trưởng đoàn, hoặc đi theo cá nhân phải báo cáo Viện trưởng về đề cương công tác bao gồm nội dung công việc cần giải quyết; địa điểm đến, thời gian đi về, dự toán kinh phí, đồng thời sau mỗi chuyến đi công tác phải có trách nhiệm cùng đoàn công tác báo cáo kết quả bằng văn bản lên Viện trưởng.

5. Việc cử cán bộ, công chức, viên chức của Viện đi công tác trong nước phải căn cứ vào yêu cầu việc chung của Viện, năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức, nghiên cứu viên đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ.

6. Cán bộ, công chức, viên chức, được cử đi dự họp, hội thảo khoa học trong nước:

a) Cán bộ, công chức, viên chức nếu được Viện trưởng cử thay mặt Lãnh đạo Viện dự các cuộc họp, hội thảo khoa học do các cơ quan, tổ chức trong và ngoài Bộ mời phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 21 Quy chế này;

b) Cán bộ, công chức, viên chức  đi điều tra, khảo sát, dự hội thảo theo kế hoạch triển khai các đề tài khoa học do Viện quản lý phải được Viện trưởng cho phép trên cơ sở đề nghị của Chủ nhiệm đề tài mà cán bộ, công chức, viên chức đó tham gia và phải tuân theo các quy định hiện hành về chế độ đi công tác, chế độ quản lý khoa học hiện hành.

Điều 23. Chế độ cử cán bộ, công chức, viên chức, của Viện đi học tập, bồi dưỡng, nghiên cứu, khảo sát ở nước ngoài.

1. Việc cử cán bộ, công chức, viên chức đi học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thực hiện theo quy định của Bộ và hướng dẫn của Vụ Tổ chức cán bộ. Sau khi nhận được thông báo của Vụ Tổ chức cán bộ, Viện trưởng có trách nhiệm thông báo kịp thời và công khai cho tất cả cán bộ, công chức, viên chức của Viện. Căn cứ vào yêu cầu của khóa học, tiêu chuẩn, điều kiện của nhân sự cần tuyển, cán bộ, công chức, viên chức có nguyện vọng đi học tập, bồi dưỡng có quyền đăng ký trực tiếp với Viện trưởng. Viện trưởng quyết định chọn và giới thiệu cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng trong số những người đăng ký sau khi trao đổi ý kiến trong Lãnh đạo Viện và tham khảo ý kiến bí thư chi bộ và Chủ tịch Công đoàn Viện và Thủ trưởng đơn vị quản lý cán bộ, công chức, viên chức.

2. Việc cử cán bộ công chức, viên chức của Viện đi nghiên cứu khảo sát ở nước ngoài.

a) Việc cử cán bộ công chức, viên chức của Viện tham gia các đoàn đi nghiên cứu khảo sát ở nước ngoài theo kế hoạch hàng năm phải căn cứ vào yêu cầu, mục  đích, nội dung, nhiệm vụ cần nghiên cứu khảo sát, nguồn kinh phí được giao, trình độ năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức, nghiên cứu viên đề cử. Viện trưởng sẽ quyết định người đi cụ thể sau khi trao đổi thống nhất trong lãnh đạo Viện.

b) Đối với cán bộ công chức, viên chức được các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước mời đích danh và được tài trợ kinh phí đi nghiên cứu, khảo sát ở nước ngoài sẽ được Viện trưởng xem xét quyết định. Nếu được đi phải cam kết đảm bảo công việc được giao và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định của Bộ về việc cử và quản lý cán bộ, công chức, viên chức đi công tác, học tập, nghiên cứu khảo sát ở nước ngoài.

Điều 24. Chế độ tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học ngoài Viện và thực hiện nhiệm vụ công

1. Khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức  của Viện giới thiệu cho Viện ký kết hợp đồng thực hiện các chương trình, dự án điều tra nghiên cứu khoa học và công nghệ liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của Viện và phù hợp với khả năng thực tế của Viện.

2. Cán bộ, công chức, viên chức được khuyến khích tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu trong và ngoài Bộ Nội Vụ với điều kiện phải đảm bảo hoàn thành tốt công việc chuyên môn do người đứng đầu các đơn vị và Viện trưởng giao, phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành và được Viện trưởng cho phép.

3. Cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ phải trình Viện trưởng giấy mời và quyết định về việc tham gia giảng dạy, nghiên cứu của các cơ quan hữu quan và phải báo cáo rõ chương trình, thời gian giảng dạy nghiên cứu để Viện trưởng xem xét quyết định.

4. Sau khi Viện trưởng cho phép, cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm báo cáo với cấp trưởng đơn vị lịch giảng dạy, nghiên cứu của mình trong tuần. Nếu lịch này trùng với kế hoạch giải quyết công việc quan trọng, đột xuất của Viện thì cán bộ, công chức, viên chức phải tự bố trí lại và phải ưu tiên thực hiện công việc của Viện.

5. Việc tham gia các Hội đồng khoa học, Hội đồng nghiệm thu, các đề tài khoa học, tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ quan ngoài Bộ Nội vụ của Viện trưởng thực hiện theo quy định trong quy chế làm việc của Bộ Nội vụ.

6. Việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ quan trong và ngoài Bộ nội vụ phải được thông báo công khai tại cuộc họp giao ban hàng tháng của Viện. Viện trưởng có trách nhiệm báo cáo đồng chí Lãnh đạo Bộ phụ trách Viện danh sách cán bộ, công chức, viên chức của Viện tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ quan ngoài Bộ Nội vụ.

7. Cán bộ, công chức, viên chức tham gia các hoạt động chuyên môn khác như tham gia hội đồng coi thi, chấm thi, Hội đồng nghiệm thu các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học ngoài Viện, trong giờ hành chính phải báo cáo và được sự đồng ý của Viện trưởng, phải tuân theo đúng các quy định của Luật khoa học và công nghệ, Luật cán bộ công chức; pháp luật về viên chức và quy định của điều này.

Điều 25. Chế độ quản lý, sử dụng kinh phí - tài chính, tài sản của Viện

1. Việc quản lý sử dụng kinh phí - tài chính bao gồm kinh phí chi thường xuyên, kinh phí chi cho thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học, các đề án, dự án, kinh phí chi đầu tư phát triển, kinh phí hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài theo đúng các quy định hiện hành của pháp luật và quy chế chi tiêu của nội bộ của Viện.

2. Việc quản lý sử dụng, thanh lý tài sản của Viện thực hiện theo đúng các quy định hiện hành của pháp luật, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng.

3. Dự toán kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của Viện khi trình lãnh đạo Viện phê duyệt phải theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành và phải có ý kiến của Kế toán trưởng Viện.

4. Tất cả hồ sơ tài liệu liên quan đến tài chính, kế toán, tài sản phải được lưu trữ bảo quản chặt chẽ theo quy định hiện hành của pháp luật của quy chế chi tiêu nội bộ.

5. Kế toán trưởng của Viện có trách nhiệm báo cáo các số liệu tài chính-kế toán, bảng cân đối tài chính và các bảng đối chiếu quỹ giữa đơn vị và kho bạc liên Viện trưởng 6 tháng 1 lần vào các ngày 30/6 và 31/12 hàng năm.

Điều 26. Chế độ công tác thi đua, khen thưởng

Tổ chức triển khai công tác thi đua khen thưởng và bình xét thi đua khen thưởng của Viện thực hiện theo các quy định hiện hành của pháp luật thi đua khen thưởng và hướng dẫn thi đua hàng năm của Bộ.

Điều 27. Chế độ giải quyết khiếu nại trong nội bộ Viện

Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện trong nội bộ Viện thực hiện theo các quy định hiện hành của pháp luật giải quyết khiếu nại tố cáo.

Điều 28. Chế độ bảo đảm trật tự, an toàn và vệ sinh của Viện

1. Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện có nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an toàn của Viện thực hiện chế độ phòng chống cháy nổ, bão lụt theo quy định hiện hành của pháp luật và của Bộ.

2. Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Viện có nhiệm vụ giữ gìn vệ sinh chung, vệ sinh phòng làm việc theo đúng các quy định của Bộ; sau mỗi tuần làm việc, các đơn vị, cá nhân chủ động làm vệ sinh phòng, sắp xếp tài liệu gọn gàng, ngăn nắp.





















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn