TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Một số vấn đề về xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công ở Việt Nam hiện nay nhìn từ thực trạng xã hội hóa lĩnh vực giáo dục và y tế
Xu thế hội nhập và đẩy mạnh tự do thương mai là không thể đảo ngược, và xu thế đó đặc biệt rõ ràng sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Các quy chế, thông lệ quốc tế và cam kết về mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại, về tư nhân hóa, kể cả là các lĩnh vực truyền thống và là nhiệm vụ của Nhà nước như y tế và giáo dục… phải dần được thực hiện phù hợp với lộ trình mà Chính phủ đã cam kết. Điều đó có nghĩa là tư nhân sẽ tham gia tích cực hơn vào việc cung cấp các dịch vụ công, trong đó hai lĩnh vực chính là giáo dục và y tế, còn Nhà nước sẽ giảm trách nhiệm trong việc cung cấp các dịch vụ này và tăng tính trách nhiệm của cộng đồng. Như vậy, mục tiêu xã hội của các dịch vụ giáo dục và y tế sẽ hướng dần sang mục tiêu lợi nhuận. 

Việt Nam có một thời gian dài thực hiện bao cấp, việc sử dụng các dịch vụ công như giáo dục và y tế là hoàn toàn miễn phí, nên các lĩnh vực này có một sức ì, chậm đổi mới và còn lúng túng trong việc xây dựng cơ chế vận hành vừa phù hợp với thị trường lại vừa phù hợp với mục tiêu xã hội. Kinh tế phát triển, mức sống dân cư và chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, kéo theo nhu cầu ngày càng gia tăng về giáo dục, chăm sóc y tế. Mặc dù nhà nước đã có những nỗ lực rất lớn để cải thiện chất lượng và xây dựng cơ chế vận hành cho các lĩnh vực này, nhưng với nguồn ngân sách hạn chế, Nhà nước đã không thể bao cấp hết mọi đối tượng và mọi hoạt động của hai lĩnh vực này. Xã hội hóa trong giáo dục và y tế là một trong những giải pháp được lựa chọn, theo đó việc bao cấp và hỗ trợ từ Nhà nước sẽ giảm dần thông qua việc giao trách nhiệm tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục và y tế, bên cạnh đó khai thác các nguồn lực khác của toàn xã hội, đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và hoạt động y tế.

Luật giáo dục năm 2019 khẳng định “phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối cơ cấu ngành nghề, trình độ, nguồn nhân lực và phù hợp vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.”

Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nhấn mạnh: Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách và có cơ chế, chính sách huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; tổ chức cung cấp dịch vụ công, bảo đảm các dịch vụ cơ bản, đồng thời khuyến khích hợp tác công - tư, đầu tư tư nhân, cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu.”. Nghị quyết 90/CP cũng đã khẳng định “xã hội hóa không có nghĩa là làm giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước”. Suy ra rằng, xã hội hóa trong giáo dục và y tế có nghĩa là huy động thêm sức mạnh của nhân dân cộng với trách nhiệm ngày càng tăng của Nhà nước để phát triển giáo dục và y tế. Như vậy, với tổng nguồn lực lớn hơn, xã hội hóa giáo dục, y tế nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu dịch vụ ngày càng tăng, tăng chất lượng dịch vụ, và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho tất cả mọi người trong xã hội.

   Khái niệm xã hội hóa ở các nước phương Tây (tiếng Pháp là socialisation hay tiếng Anh là socialization) từ trước tới nay, vẫn thường được dùng theo nghĩa “tập thể hóa”, “đặt dưới chế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển của nhà nước nhân danh xã hội”, “quốc hữu hóa” v.v. Trong tiếng Việt trước đây, “xã hội hóa” được Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - 1985) cũng giải thích xã hội hóa là làm cho trở thành của chung của xã hội, với ví dụ xã hội hóa tư liệu sản xuất, tức là, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, khái niệm xã hội hóa được dùng hiện nay ở Việt Nam có nghĩa hoàn toàn ngược lại. Thường khi nói về xã hội hóa hoạt động y tế, giáo dục, thể thao, văn hóa...chúng ta thường hiểu theo nghĩa là huy động các nguồn lực ngoài nhà nước (nguồn lực của xã hội) vào cung cấp các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Trong các văn bản pháp luật chính thức của Việt Nam thì thuật ngữ xã hội hóa xuất hiện đầu tiên trong Phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000 (Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996). Trong báo cáo này thì xã hội hóa giáo dục được coi là chủ trương quan trọng để phát triển giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên các nội dung của xã hội hóa chỉ được nêu tại Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ năm 1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. Sau đó các nội dung của xã hội hóa tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Theo các văn bản này, xã hội hóa được hiểu như sau: “Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao chất lượng về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân”; “xã hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”; “xã hội hóa và đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa thể thao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành”; “xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn…”. Với người dân, xã hội hóa được hiểu đơn giản là nhân dân đóng góp thêm nguồn lực cho các hoạt động đó: đóng góp tiền dưới dạng các loại phí, khi sử dụng các dịch vụ; cung ứng các dịch vụ đó, như thành lập trường tư, bệnh viện tư, phòng khám tư… Như vậy, xã hội hóa các dịch vụ công có thể được hiểu là: i) Người sử dụng dịch vụ bỏ (một phần hay toàn bộ) tiền ra mua dịch vụ; ii) Các cơ sở cung cấp dịch vụ công đưa một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động của mình vào giá dịch vụ do người sử dụng chi trả (thay vì được nhà nước bao cấp toàn bộ); iii) Khuyến khích người dân, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cung ứng dịch vụ.

   Từ góc độ thực trạng xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và y tế, với sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và  tiếp theo là Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, cơ cấu ngành giáo dục có sự chuyển biến mạnh mẽ. Các loại hình đào tạo như: công lập, tư thục, đa dạng về trình độ đào tạo có các cấp học từ mầm non đến tiểu học, trung học, đại học và sau đại học đã phát triển và đạt được kết quả nhất định về số lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo. Mạng lưới trường lớp hiện nay rất đa dạng, bao gồm các cơ sở công lập, tư thục, liên doanh, liên kết nước ngoài và 100% vốn nước ngoài. Năm học 2014-2015, cả nước có 46.394 tổng số các cơ sở giáo dục, đào tạo. Trong đó, số cơ sở ngoài công lập là 2.743, chiếm xấp xỉ 6,0%; số cơ sở 100% vốn đầu tư nước ngoài là 164, chiếm khoảng 0,04%. Hiện có khoảng 14,5% số học sinh nhà trẻ, 12,6% học sinh mẫu giáo đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các nhà trẻ, lớp mẫu giáo và trường mầm non tư thục. Hơn 7,2% học sinh trung học phổ thông, 30,5 học sinh trung cấp chuyên nghiệp và 13,3% sinh viên cao đẳng, đại học đang học tập tại các cơ sở giáo dục tư thục. Phương thức giáo dục, đào tạo linh hoạt và mềm dẻo, bao gồm chính quy trong nhà trường, giáo dục thường xuyên (dài hạn, ngắn hạn) với các hình thức học tập liên thông, vừa học vừa làm trong nhà trường, ngoài nhà trường và từ xa... Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giai đoạn 2006-2010, nguồn vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước huy động được dưới hình thức xã hội hóa chiếm xấp xỉ 22% tổng đầu tư toàn xã hội cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Trong lĩnh vực y tế, thời gian qua cũng đã đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hóa. Đối với các bệnh viện công, hình thức phát triển mạnh nhất là liên doanh, liên kết để lắp đặt máy móc, trang thiết bị y tế. Kể từ Nghị quyết số 18/2008/QH12 về đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, các cơ sở y tế công lập đã vay vốn, huy động vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị; liên doanh, liên kết; thuê cơ sở, trang thiết bị; hợp tác với nhà đầu tư để xây dựng bệnh viện trong hoặc ngoài bệnh viện công; nhà đầu tư xây dựng bệnh viện để cho bệnh viện công thuê lại… Chính phủ đã ban hành một số chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế, cho phép hợp tác công tư để khuyến khích phát triển y tế tư nhân, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dân. Theo đó, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn đã đầu tư xây dựng bệnh viện, bước đầu hình thành một số tập đoàn bệnh viện, mô hình “bệnh viện phi lợi nhuận”. Y tế tư nhân phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô, từ 74 bệnh viện năm 2009 đã lên tới 206 bệnh viện vào năm 2018, trên 30.000 phòng khám đa khoa, chuyên khoa, cung cấp 43% dịch vụ ngoại trú và 2,1% dịch vụ nội trú cho người dân...

Có thể thấy, việc triển khai thực hiện xã hội hóa đối với hai lĩnh vực nói trên đã mang lại một số kết quả nhất định như: tăng nguồn cung ứng dịch vụ, đa dạng hóa được các loại hình và các sản phẩm trong từng loại hình, tăng sự lựa chọn cho người sử dụng dịch vụ. Đồng thời đã huy động được các nguồn lực xã hội hoặc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, cùng với Nhà nước đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và hoạt động khám chữa bệnh của người dân.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện xã hội hóa giáo dục và y tế vẫn còn một số hạn chế, cụ thể như: đối với lĩnh vực giáo dục việc xã hội hóa xảy ra tình trạng không đồng đều giữa các vùng miền và ngay cả giữa các tỉnh, thành phố, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội như nhau. Các dự án đầu tư chủ yếu tập trung vào khu vực thành phố và các địa phương nằm trong vùng kinh tế động lực như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ. Hầu như chưa thu hút được dự án đầu tư nước ngoài nào vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở khu vực nông thôn. Tính riêng các dự án FDI giáo dục - đào tạo, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 93,3% tổng vốn đăng ký (thành phố Hồ Chí Minh có 83 dự án với tổng vốn đầu tư 204,5 triệu USD, chiếm 48,8% về số dự án và chiếm 43,6% về tổng vốn đầu tư; Hà Nội có 58 dự án với 233 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 34,1% tổng số dự án và chiếm 49,7% về tổng vốn đầu tư). Cơ chế, chính sách về tự chủ còn thiếu và chưa đồng bộ; việc giao quyền tự chủ đối với cơ sở giáo dục đại học mới chỉ thực hiện thí điểm, chưa trở thành nhu cầu nội tại của các trường; điều kiện tự chủ mới chỉ tiếp cận chủ yếu từ góc độ về tài chính, chưa tính đến năng lực chuyên môn và năng lực tổ chức quản lý của các cơ sở đào tạo. Tự chủ đại học chưa gắn liền với đổi mới quản trị nhà trường. Trong quá trình thực hiện, nhiều cơ sở đào tạo chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tự chủ. Một số cơ sở giáo dục đại học chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng nên lúng túng trong thực hiện.

Đối với việc xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập trong việc triển khai và thực hiện các chính sách pháp luật khiến hệ thống y tế ngoài công lập gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong thời kỳ kinh tế hội nhập. Chất lượng dịch vụ và cơ sở vật chất của một số cơ sở cung ứng dịch vụ khám, chữa bệnh ngoài công lập chưa đảm bảo về chất lượng. Hiện nay trên cả nước đã xuất hiện nhiều loại hình bệnh viện tư nhân, phòng khám tư nhân song chất lượng của các loại hình này chưa được đảm bảo. Một số bệnh viện, phòng khám có biểu hiện xuống cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, dẫn đến chất lượng kém trong quá trình điều trị, chữa bệnh cho bệnh nhân. Thị phần cơ sở y tế tư nhân còn khiêm tốn so với các nước khác, mặc dù nhà nước đã có nhiều cơ chế chính sách cho y tế tư nhân phát triển trong những năm gần đây, nhưng vẫn chưa đủ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở này phát triển so với các nước trên thế giới. Ví dụ như tỉnh Phú Thọ có 01 bệnh viện tư nhân; Tuyên Quang chưa có bệnh viện tư nhân. Mặt khác, việc xã hội hóa giáo dục và y tế cũng đã bộc lộ những mặt trái gây ra các tác động tiêu cực đến khả năng tiếp cận các dịch vụ này của người nghèo: i) Xã hội hóa dịch vụ công không nhất thiết sẽ đi kèm với nâng cao chất lượng dịch vụ. Đối với dịch vụ mà người sử dụng khó có khả năng và điều kiện đánh giá chất lượng như y tế và giáo dục, cạnh tranh (do xã hội hóa tạo nên), không nhất thiết là áp lực nâng cao chất lượng. Nếu không có sự giám sát và kiểm soát chất lượng tốt nhằm bảo vệ quyền lợi của người sử dụng dịch vụ, cạnh tranh còn tạo sức ép để các đơn vị cung cấp dịch vụ giảm chất lượng, chạy theo lợi nhuận đơn thuần. ii) Tương tự, xã hội hóa về cơ bản không tự thân hướng tới người nghèo. Mặc dù người nghèo có thể hưởng lợi một cách gián tiếp thông qua sự tăng lên của nguồn cung cấp dịch vụ, song mức phí dịch vụ cao và sự phân biệt về đối tượng khách hàng của các hoạt động “xã hội hóa” sẽ dần tạo nên sự bất bình đẳng trong sử dụng dịch vụ. Vì vậy, xã hội hóa tự thân nó không giúp giải quyết các mục tiêu xã hội, nhất là tạo sự bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công đối với người nghèo. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và thực thi chính sách xã hội hóa các lĩnh vực công trong giáo dục và y tế ở Việt Nam cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo. Nếu không, các chính sách này có thể sẽ không mang lại lợi ích cho những người nghèo mà thậm chí có thể gây ra các tác động tiêu cực tới nhóm người rất dễ bị tổn thương này.

Nhìn chung, việc xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và y tế nói riêng cũng  như chủ trương xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công thời gian qua đã mang lại những tác động tích cực tới việc nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Tác động lớn nhất là đã huy động vốn đầu tư mở rộng nguồn cung ứng các dịch vụ, đa dạng hóa loại hình dịch vụ và tạo sức ép cạnh tranh nhất định, tăng chất lượng các dịch vụ này. Tuy nhiên, để mang lại kết quả thực sự và ý nghĩa của việc xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công của Việt Nam, nhà nước nên coi xã hội hóa là gắn liền với việc chuyển đổi vai trò quản lý của nhà nước từ việc trực tiếp cung cấp dịch vụ sang việc quản lý vĩ mô. Cần xác định rõ xã hội hóa đi kèm với việc thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô khác như quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát. Điều này cực kỳ quan trọng nhằm giúp người dân được hưởng dịch vụ đúng như tiêu chuẩn. Công tác kiểm tra giám sát cũng cần được tăng cường nhằm hạn chế các hiện tượng lạm dụng xã hội hóa làm tăng chi phí. Cần tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội trong việc giám sát hoạt động của các các cơ sở cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó, cùng với việc triển khai xã hội hóa, chính quyền địa phương phải nâng cao vai trò dự báo, lên kế hoạch, quy hoạch, điều tiết sự phát triển giữa các vùng, và kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở thuộc sở hữu khác nhau. Hiện nay, các địa phương chưa quan tâm đúng mức tới các vai trò quản lý đi kèm với xã hội hóa mà chỉ tập trung vào tác động tăng trưởng đơn thuần (huy động nguồn lực) của xã hội hóa. Về công tác định hướng, các địa phương cần có quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở giáo dục, y tế ở các vùng khác nhau, từ đó tính toán và có chính sách khuyến khích để các vùng sâu vùng xa vẫn có cơ sở giáo dục, y tế giảm rào cản về khoảng cách cho họ. Trong một số trường hợp, nhà nước có thể dành tiền đầu tư các cơ sở công lập nhiều hơn cho vùng sâu, vùng xa vì ở các vùng đông dân, các cơ sở dân lập và tư thục sẽ ngày càng phát triển và bổ sung khá lớn về nguồn cung dịch vụ.

ThS. Đỗ Thị Thu Hằng, Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Giáo dục năm 2019.

2. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

3. Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách xã hội hóa đối với các hoạt động trong giáo dục- đào tạo, dạy nghề ; y tế; văn hóa; thể dục, thể thao; môi trường.

4. Báo cáo tổng hợp Dự án điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công; Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ thực hiện năm 2019.





















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn