TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Đẩy mạnh việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ
Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học là một hoạt động tất yếu do thực tiễn đặt ra và phục vụ thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào quá trình đổi mới và phát triển. Thực tế đã chứng minh, nếu các nghiên cứu khoa học không được ứng dụng vào thực tiễn thì các kết quả nghiên cứu chỉ là lý thuyết suông, không thể phát huy những ý tưởng sáng tạo, những phát minh, sáng kiến mới được thể hiện trong lý thuyết nghiên cứu vào thực tiễn. Điều này dẫn đến sự lãng phí ngân sách nhà nước và làm giảm động lực nghiên cứu của các nhà khoa học. Việc ứng dụng nghiên cứu khoa học chính là quá trình nghiên cứu, lựa chọn, chắt lọc và chuyển hoá các kết quả nghiên cứu khoa học lý thuyết thành tiền đề xã hội để áp dụng vào thực tiễn.

Vấn đề ứng dụng các kết quả nghiên cứu cũng như nâng cao hiệu quả của việc đầu tư cho triển khai các nghiên cứu khoa học của Bộ Nội vụ đã được Lãnh đạo Bộ, Hội đồng khoa học Bộ cũng như các Vụ chức năng thuộc Bộ nhiều lần đặt ra trong các cuộc họp Hội đồng khoa học Bộ như một vấn đề cấp thiết, cần phải giải quyết.

Trong những năm qua, các kết quả nghiên cứu khoa học của Bộ Nội vụ được ứng dụng đã đóng góp quan trọng vào việc hoạch định chính sách, xây dựng các văn bản pháp luật phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng như các nhiệm vụ chính trị của Bộ.

1. Thực trạng triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của Bộ Nội vụ

Công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ bao gồm các lĩnh vực: tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; quản lý và cung ứng dịch vụ công; cải cách hành chính nhà nước; quản lý nhà nước về văn thư – lưu trữ; quản lý nhà nước về tôn giáo; quản lý nhà nước về thi đua - khen thưởng; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước của ngành nội vụ… Chính vì vậy công tác nghiên cứu khoa học của Bộ Nội vụ với mục tiêu cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ. Ngoài việc tham gia nghiên cứu các vấn đề có tính lý luận cơ bản thì nhiệm vụ chính của việc nghiên cứu là tìm ra những vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước của Bộ để nghiên cứu, phân tích, tổng kết, đánh giá và tìm ra các giải pháp thích hợp để giải quyết các vấn đề quản lý một cách hiệu quả nhất.

Trong những năm qua, các kết quả nghiên cứu khoa học đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, đóng góp quan trọng vào việc hoạch định nhiều chính sách, xây dựng các văn bản pháp luật phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng như các nhiệm vụ chính trị của Bộ. Cụ thể:

Thứ nhất, các ý tưởng nghiên cứu khi được các cá nhân, các đơn vị đề xuất thành nội dung nghiên cứu hàng năm đã phản ánh được những vấn đề đang đặt ra trong công tác chuyên môn cần được quan tâm giải quyết. Vì vậy, tính ứng dụng đã thể hiện ngay trong các nội dung được đề xuất nghiên cứu. Các đề xuất nghiên cứu trên khi được chuyển thành nhiệm vụ nghiên cứu của Bộ Nội vụ thì sẽ là những nghiên cứu thiết thực, có tính ứng dụng tốt, phục vụ ngay cho công tác chuyên môn của các tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ nghiên cứu. Trong thời gian qua, nhiều đề xuất nghiên cứu của các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ đã được Hội đồng khoa học Bộ, Hội đồng tư vấn, rà soát Danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Bộ đánh giá cao, sát với thực tiễn, nhu cầu quản lý của đơn vị mình, như đề tài “Cơ sở khoa học xây dựng khung năng lực mẫu cho một số vị trí việc làm ở Bộ Nội vụ”; “Quản lý biên chế công chức trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hiện đại hóa”; “Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực khen thưởng giai đoạn hiện nay và nghiên cứu góp phần sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng” … Các đề tài này sau khi được đánh giá nghiệm thu đã góp phần vào việc cung cấp luận cứ khoa học góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện các văn bản pháp luật phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, cũng như phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, nghiên cứu của các đơn vị trực thuộc Bộ.

Thứ hai, một số nghiên cứu trong thời gian qua được triển khai thực hiện xuất phát từ những chương trình, nội dung nhiệm vụ mới đặt ra cho công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ nên có tính ứng dụng tốt. Có thể kể đến các kết quả được ứng dụng trong xây dựng một số chủ trương, chính sách lớn của Đảng và pháp luật của Nhà nước như: chuẩn bị nội dung các Nghị quyết của Đảng về cải cách nền hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức; Đề án về kiện toàn chính quyền cơ sở nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX); Báo cáo Ban bí thư về “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội dân sự ở Việt Nam”; Đề án và Nghị quyết số 08/2004/CP của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc TW; Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; Đề án  thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường; Đề án đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công… Những nghiên cứu về các nhiệm vụ mới của Bộ Nội vụ là rất cần thiết, tính ứng dụng thể hiện trong việc góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của nhiệm vụ và là căn cứ quan trọng để Bộ Nội vụ tham mưu, đề xuất nhiều nội dung quan trọng đối với Đảng, Nhà nước về những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ.

Thứ ba, nhiều nội dung, lĩnh vực được nghiên cứu trong thời gian qua xuất phát từ việc Chính phủ, Bộ Nội vụ triển khai đánh giá sơ kết, tổng kết các chương trình, đề án, dự án, trong đó có những vấn đề còn chưa được làm rõ về mặt lý luận hoặc qua thực tiễn thực hiện cần được nghiên cứu để tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, cách làm, nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện hoặc nhằm tạo ra những nét mới, nét đột phá trong triển khai thực hiện. Có thể kể đến như: “Đề án tổng kết 20 năm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội”; “Đề án xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong Chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ” …

Thứ tư, một số đề tài nghiên cứu có tính ứng dụng cao trong việc bồi dưỡng, cung cấp, nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin, về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, về các thuật ngữ hành chính…

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế nhất định:

Việc đề xuất, đặt hàng các đề tài khoa học cấp bộ tuy đã được quy định cụ thể trong Quy chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ, nhưng trên thực tiễn việc thực hiện còn chưa tốt. Các Vụ chức năng còn chưa quan tâm đề xuất các vấn đề đang “nổi cổm” đặt ra trong công tác quản lý nhà nước của đơn vị mình. Các đăng ký, đề xuất chủ yếu từ các đơn vị nghiên cứu và giảng dạy nên chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu thực tiễn quản lý nhà nước của Bộ. Ngoài ra, việc phối hợp thực hiện các đề tài cấp bộ giữa các đơn vị nghiên cứu giảng dạy với các vụ chức năng cũng chưa được chặt chẽ. Điều đó cũng là nguyên nhân dẫn đến việc nghiên cứu chưa gắn với thực tiễn ứng dụng vào các lĩnh vực quản lý của Bộ.    Chưa thực hiện hiệu quả cơ chế tuyển chọn chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ khoa học theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng và khả năng ứng dụng của các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn công tác.

Một số chủ nhiệm chưa đầu tư thời gian thích đáng cho việc triển khai ứng dụng, nên chất lượng các sản phẩm nghiên cứu chưa cao, làm giảm tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu.

Các sản phẩm nghiên cứu và được nghiệm thu chưa quan tâm tốt việc xã hội hóa sản phẩm bằng các hình thức hiệu quả.

2. Một số giải pháp đẩy mạnh việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ

Một là, chú trọng việc định hướng các nội dung nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu khoa học hàng năm.

Việc định hướng nghiên cứu và đề xuất các nội dung nghiên cứu hàng năm là giai đoạn quan trọng góp phần nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học vào nhiệm vụ chuyên môn.

Ngoài những định hướng nghiên cứu đã được quy định tại Quy chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ; cơ quan quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ có thể căn cứ vào các chủ trương, chính sách mới; căn cứ Chương trình công tác trọng tâm trong năm và thực tế tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đề nghị các tổ chức, cá nhân đề xuất nội dung nghiên cứu khoa học của năm tới, đồng thời gợi ý các nội dung nghiên cứu khoa học gửi kèm theo để các tổ chức, cá nhân có căn cứ nghiên cứu, cân nhắc đề xuất nội dung nghiên cứu. Với những gợi ý nội dung nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu phù hợp, sát thực tiễn sẽ góp phần quan trọng nâng cao khả năng ứng dụng của các nhiệm vụ nghiên cứu sau này nếu được triển khai thực hiện.

Do đó, làm tốt ngay từ khâu chọn vấn đề nghiên cứu chính là giải pháp then chốt để nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ. Cơ quan quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội cần phát huy vai trò tham mưu lựa chọn vấn đề nghiên cứu thật sự cấp thiết để góp phần cung cấp được những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, pháp luật của Bộ Nội vụ.

Hai là, tăng cường cơ chế tuyển chọn các chủ nhiệm thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

Chất lượng nghiên cứu phụ thuộc vào năng lực, vào phương thức tổ chức và tri thức về lĩnh vực nghiên cứu của người thực hiện việc nghiên cứu. Vì vậy, quá trình chọn chủ nhiệm đề tài - là những người, những đơn vị có đủ năng lực, có trách nhiệm, có thời gian đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học cần theo hướng tuyển chọn, có cạnh tranh.

Để chọn trúng và đúng chủ nhiệm đề tài có năng lực tốt, cần dựa vào đánh giá của Hội đồng tư vấn tuyển chọn chủ nhiệm về bản thuyết minh nhiệm vụ khoa học và lý lịch khoa học của người đăng ký thực hiện. Thuyết minh nhiệm vụ khoa học càng chất lượng, năng lực nghiên cứu của chủ nhiệm càng cao thì kết quả nghiên cứu sẽ càng có nhiều giá trị khoa học, giá trị thực tiễn, phục vụ cho công tác chuyên môn. Đây được xem là yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu khoa học.

Ba là, tham mưu đề xuất vào các Hội đồng: Hội đồng tư vấn, rà soát Danh mục nhiệm vụ khoa học & công nghệ của Bộ; Hội đồng nghiệm thu, đánh giá kết quả nhiệm vụ khoa học & công nghệ các thành viên là lãnh đạo các đơn vị, chuyên viên am hiểu về lĩnh vực quản lý thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài để bảo đảm các nghiên cứu được cập nhật, bám sát thực tiễn, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Bộ.

 Bên cạnh đó, nâng cao hơn nữa chất lượng của Hội đồng nghiệm thu, đánh giá kết quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Hội đồng đánh giá, nghiệm thu là một yếu tố rất quan trọng để đánh giá đúng chất lượng nghiên cứu. Khi thành lập Hội đồng nghiệm thu cần tôn trọng yêu cầu về năng lực, trình độ, vị trí công tác của các thành viên nhằm đảm bảo tính chất lượng và khách quan khi đánh giá. Ngoài ra, thời gian tổ chức nghiệm thu cũng cần đảm bảo để các thành viên Hội đồng đủ thời gian tiếp cận với sản phẩm khoa học được đánh giá theo quy chế quản lý nhiệm vụ khoa học, để có thể đọc kỹ và đưa ra những nhận xét xác đáng, những góp ý chất lượng, giúp ban Chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học tiếp thu, hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng cho sản phẩm của đề tài.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả quy định về chuyển giao kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu đã được ban hành trong Quy chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ.

Quy chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ đã quy định quy trình triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, bao hàm trách nhiệm đề xuất ứng dụng của người nghiên cứu, trách nhiệm phối hợp của các đơn vị liên quan đến kết quả nghiên cứu và nguồn lực, cùng trách nhiệm tổ chức thực hiện hoạt động ứng dụng. Quy trình này đã được quy định trong Quy chế, tạo điều kiện thống nhất thực hiện, được coi là một phần tất yếu sau khi kết thúc nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của cơ quan.

 Để quy trình này có hiệu quả trong thực tiễn, đơn vị được thụ hưởng kết quả nghiên cứu, cần căn cứ vào kết quả nghiên cứu thu được qua Bản báo cáo chắt lọc kết quả nghiên cứu, chủ động tham mưu ban hành các văn bản có tính chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nếu cần thiết, bởi đó là con đường ngắn nhất, nhanh nhất để đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào ứng dụng trong thực tiễn.

Năm là, tiếp tục quan tâm thực hiện tốt việc xã hội hóa các kết quả nghiên cứu khoa học.

Để góp phần nâng cao khả năng ứng dụng của các sản phẩm nghiên cứu sau khi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, cùng với việc tiến hành đăng tải kết quả nghiên cứu trên các phương tiện thông tin thì các sản phẩm nghiên cứu có chất lượng tốt (xếp loại Xuất sắc khi nghiệm thu), cần được quan tâm và có cơ chế xuất bản thành sách để sử dụng làm tài liệu tham khảo hoặc tra cứu, sử dụng khi cần thiết. Sau khi đã được xuất bản, cần quan tâm tổ chức việc phát hành các sản phẩm này, tránh tình trạng sách in xong lại cất vào ngăn kéo, gây lãng phí vì không đến được tay người cần sử dụng.

Đơn vị quản lý nhiệm vụ khoa học của Bộ Nội vụ cần thường xuyên theo dõi, đôn đốc, yêu cầu các chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học thực hiện việc xã hội hóa các nghiên cứu khoa học, công bố kết quả nghiên cứu khoa học trên các phương tiện thông tin truyền thông.

Tuyên truyền về vai trò và ý nghĩa của việc xã hội hóa kết quả nghiên cứu khoa học; hướng dẫn các hình thức và phương pháp xã hội hóa kết quả nghiên cứu trong hệ thống cán bộ, công chức, viên chức. Qua đó, nâng cao ý thức trách nhiệm về hoạt động xã hội hóa kết quả nghiên cứu khoa học với những người tham gia nghiên cứu, giúp họ có được những hình thức xã hội hóa nghiên cứu khoa học phù hợp, tránh lãng phí chất xám được chắt lọc, góp phần nâng cao sự hiểu biết chuyên môn, kỹ năng cho các đồng nghiệp.

Sáu là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của đơn vị chủ trì nhiệm vụ. Nguồn nhân lực để triển khai hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đơn vị liên quan đến kết quả nghiên cứu (nơi được xác định là đơn vị áp dụng, hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu ở thuyết minh nhiệm vụ khoa học). Điều này cũng yêu cầu lãnh đạo các đơn vị khi đăng ký chủ trì phải xác định được vai trò, trách nhiệm của mình đối với hoạt động nghiên cứu đó và nghiêm túc, sát sao thực hiện trách nhiệm của mình trong toàn bộ quá trình tổ chức triển khai nghiên cứu, lên phương án tiếp nhận kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình để áp dụng vào công tác chuyên môn.

Cần có chính sách khuyến khích để đẩy mạnh hoạt động ứng dụng nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn, trong Quy chế thi đua khen thưởng của cơ quan sẽ đưa hoạt động ứng dụng, xã hội hóa các kết quả nghiên cứu khoa học là một sáng kiến đề xuất được khen thưởng; hoặc coi đây là một nhiệm vụ bắt buộc, là tiêu chí để đăng ký tham gia nghiên cứu nhiệm vụ khoa học của cán bộ, công chức, viên chức cơ quan; hoặc tính điểm cộng trong tiêu chuẩn xét tăng lương trước thời hạn, bổ nhiệm cán bộ...

Bảy là, đẩy mạnh hợp tác, liên kết quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu.

Tăng cường và tranh thủ sự ủng hộ của các Bộ, các tổ chức quốc tế để tham gia vào các chương trình/dự án hợp tác quốc tế về KH&CN. Thường xuyên trao đổi thông tin mạng lưới đại diện KHCN ở nước ngoài, thu thập các thông tin kịp thời về hiện trạng KHCN và cộng đồng KHCN trên thế giới, xây dựng hướng nghiên cứu mới theo xu hướng toàn cầu như cuộc cách mạng 4.0; từ đó, gắn kết quả nghiên cứu với xu hướng toàn cầu hơn. Khuyến khích và hỗ trợ các nhóm nghiên cứu triển khai các công bố quốc tế và trong nước, trong đó chú trọng các công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín./.

ThS. Đào Thị Lanh - Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ





















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn