TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Phụ nữ tham chính ở các nước trên thế giới

Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị được coi là một biểu hiện của bình đẳng giới và bảo đảm cho sự phát triển bền vững của các quốc gia. Việt Nam có nhiều tiến bộ về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ trên nhiều phương diện như giáo dục, y tế, kinh tế nhưng trong lĩnh vực chính trị vẫn chưa đạt so với tiềm năng và mong muốn. Nghiên cứu xu hướng nữ giới tham gia chính trị ở các quốc gia trên thế giới là bước quan trọng để tìm ra các giải pháp can thiệp, thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam.

I. Khung pháp lý liên quan đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị

1.1. Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW)

Thúc đẩy phụ nữ tham chính là trao quyền cho phụ nữ về mặt chính trị, đảm bảo sự đại diện bình đẳng của phụ nữ trong chính trị. Đây chính là vấn đề cốt lõi gắn liền với sự thịnh vượng và phát triển bền vững của một quốc gia. Trên bình diện quốc tế, bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của toàn cầu và là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập của mỗi quốc gia. Trong xu thế phát triển đó, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979 theo Nghị quyết số 34/180. Được đánh giá là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên khẳng định nguyên tắc không chấp nhận sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính tương đối triệt để, Công ước CEDAW có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và là cơ sở pháp lý quan trọng trong quá trình đấu tranh giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ ở các quốc gia trên thế giới.

Về lĩnh vực chính trị, điều 7 của Công ước CEDAW quy định: Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và cộng đồng của đất nước và đặc biệt là phải đảm bảo cho phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với nam giới, được thụ hưởng các quyền sau:

a. Tham gia bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý, được quyền ứng cử vào tất cả các cơ quan dân cử;

b. Được tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của chính phủ, tham gia vào bộ máy và các chức vụ nhà nước ở mọi cấp chính quyền;

c. Tham gia vào các tổ chức xã hội và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước.

Hiện nay có 187 quốc gia trên thế giới ký và phê chuẩn công ước CEDAW, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc. Việt Nam là nước thứ 6 trên thế giới ký Công ước (29/7/1980) và là nước thứ 35 phê chuẩn Công ước (19/3/1982). Việc phê chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước CEDAW có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển pháp luật về quyền con người, đối với việc tạo dựng hành lang pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm các quyền bình đẳng của phụ nữ, đồng thời là yếu tố quốc tế thúc đẩy việc xây dựng cơ chế quốc gia về bảo vệ, phát triển các quyền của phụ nữ, góp phần xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển phụ nữ tại Việt Nam.

1.2. Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh

Năm 1995, xét thấy nhu cầu tăng nữ giới trong các cơ quan dân cử và thu hẹp bất bình đẳng giới, hàng nghìn đại biểu từ hơn 180 quốc gia và các tổ chức phi chính phủ tham dự Hội nghị Thế giới lần thứ 4 của Liên Hợp Quốc về phụ nữ tại Trung Quốc đã nhất trí ký kết Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh trên 12 lĩnh vực. Các văn bản này khẳng định quyết tâm tiến tới mục tiêu bình đẳng, phát triển và hòa bình cho tất cả phụ nữ ở mọi nơi trên Trái Đất vì lợi ích của toàn nhân loại. Nhờ đó, các chính phủ, tổ chức xã hội dân sự và người dân đã và đang thúc đẩy chuyển những cam kết đó thành thay đổi cụ thể tại từng quốc gia.

Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh còn có ý nghĩa quan trọng trong loại bỏ rào cản ngăn nữ giới tham chính. Đây cũng là nền tảng xây dựng mục tiêu cơ cấu nữ trong Nghị viện các nước lên 30%. Điều này đồng nghĩa với nhu cầu tăng cường vai trò của phụ nữ trong việc đưa ra các quyết định lớn. Cương lĩnh là kết quả những cuộc đấu tranh của phụ nữ trên toàn thế giới qua hàng thập kỷ để đạt được bình đẳng, phát triển và hòa bình. Mặc dù không phải là văn kiện bắt buộc, nhưng nó được coi là văn bản được thống nhất và là tuyên bố toàn diện nhất về những vấn đề liên quan đến phụ nữ tính đến thời điểm đó.

1.3. Hiến pháp và các quy định pháp luật của các quốc gia

Hiến pháp và luật pháp của mỗi quốc gia trực tiếp quyết định việc loại trừ hay hạn chế sự tham gia của nữ giới vào trong lĩnh vực chính trị. Nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị nói riêng và bình đẳng giới nói chung, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định vấn đề này trong Hiến pháp (Trung Quốc, Hàn Quốc, Lào, Kosovo, Bosnia, Albania…). Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, nhiều nước ban hành đạo luật riêng về bình đẳng giới với tên gọi như Luật Bình đẳng giới (Đan Mạch, Na Uy, Kosovo, Thụy Sỹ, Bosnia…) hoặc Luật về bình đẳng giữa nam và nữ (Phần Lan). Tại một số nước lại gọi tên Luật theo mục đích mà luật hướng tới như Luật vì một xã hội bình đẳng giới (Anbani), Luật về các cơ sở đảm bảo bình đẳng giới (Kyggyzstan), Luật cơ bản về một xã hội bình đẳng (Nhật Bản) hay Luật cơ hội bình đẳng (Thụy Điển), Luật bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ (Trung Quốc). Về cơ bản, nội dung pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị của các nước quy định về bình đẳng trong tham chính, bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử Quốc hội, Nghị viện, tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của Chính phủ.

II. Thực trạng phụ nữ tham chính trên thế giới và ở Việt Nam

2.1. Nữ giới tham gia Nghị viện (Quốc hội)

Trong cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995, các nước thống nhất xây dựng mục tiêu cơ cấu nữ trong nghị viện các nước lên 30%. Trên thực tế, theo thống kê đến năm 2017, mới chỉ có 47 quốc gia thành viên đạt được mục tiêu này (so với 5 quốc gia năm 1995).[1]  Tuy nhiên cũng chỉ có 2 trong 47 nước kể trên là Andorra và Rwanda đạt được hoặc vượt quá mục tiêu số lượng nữ giới trong nghị viện mà các quốc gia này đề ra.

Tỷ lệ nữ giới tham gia nghị viện ở nhiều quốc gia trên thế giới có sự gia tăng trong hơn 20 năm trở lại đây. Theo báo cáo của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), tỷ lệ phụ nữ trong nghị viện tăng gần 1%, từ 22,4% năm 2016 lên 23,3% vào năm 2017 và tăng 12% so với năm 1995 (tỷ lệ năm 1995 là 11.3%) (xem biểu đồ 2). Mức tăng này xác nhận sự gia tăng liên tục của phụ nữ trong nghị viện, với tốc độ thay đổi tăng nhẹ so với các năm trước. Các quốc gia có hạn ngạch giới được phân bổ tốt đã bầu chọn nhiều phụ nữ vào nghị viện hơn so với những nước không có hạn ngạch, lần lượt là 7% nhiều hơn ở hạ viện và 17% nhiều hơn ở thượng viện. Quốc gia có tỷ lệ nữ trong hạ viện cao nhất là Rwanda (61,3%) và 4 quốc gia không có nữ giới trong hạ viện đó là Micronesia, Qatar, Vanuatu và Yemen.

Việt Nam có tỷ lệ nữ giới tham gia Quốc hội xếp thứ 60 trên 193 quốc gia trên thế giới (132 nữ/494 đại biểu Quốc hội, chiếm 26,7%), cao hơn tỷ lệ trung bình nữ giới trong nghị viện trên toàn thế giới (23,3%) và khu vực châu Á (19,3%). Tuy vậy, tỷ lệ nữ giới trong nghị viện, kể cả hạ viện và thượng viện trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam chưa đạt mục tiêu 30% mà Diễn đàn Bắc Kinh (1995) đề ra.

Biểu đồ 1. Tỷ lệ nữ thành viên nghị viện của các quốc gia trên thế giới


Nguồn: Women in Politics 2017 – UN Women

Biểu đồ 2 phản ánh xu hướng nữ giới tham gia nghị viện (gồm Hạ viện và Thượng viện) giai đoạn 1995-2017. Trong 22 năm qua, mặc dù tốc độ tăng tỷ lệ nữ giới tham gia nghị viện giữa các khu vực có khác nhau nhưng không ổn định.  So sánh với điểm tăng tỷ lệ nữ giới tham gia nghị viện trung bình của toàn thế giới là 12,0% thì khu vực có tốc độ tăng cao nhất là các quốc gia châu Mỹ (+15,4), thứ hai là châu Phi (+13,8), tiếp đến Trung Đông (+13,7), Châu Âu (+13,1), Châu Đại Dương (+11,1) và cuối cùng là Châu Á có tỷ lệ tăng rất thấp với mức tăng 6,1%. Thậm chí khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong giai đoạn 1990-2010 còn có những quốc gia đi ngược lại với xu thế tăng tỷ lệ nữ giới tham chính, phản ánh sự tụt hậu về bình đẳng giới trong nghị viện. Điển hình trong nhóm này là Mông Cổ, nước có tiến triển về dân chủ hóa trong những năm gần đây nhưng lại có tỷ lệ nữ được bầu giảm từ 25% (năm 1990) xuống còn 4% (năm 2010) và Tavalu giảm từ 7% xuống 0%. Sự thay đổi đột ngột trong ngắn hạn cho thấy tác động nhanh chóng của các chính sách, đặc biệt là việc áp dụng (hoặc loại bỏ) các hạn ngạch giới hiệu quả hoặc các cải cách thể chế khác nhau.

Việt Nam cũng không nằm ngoài các trường hợp này. Năm 1977, Việt Nam được xếp hạng trong 10 quốc gia hàng đầu thế giới về số lượng phụ nữ trong Quốc hội, tuy nhiên đến năm 2012, thứ hạng này giảm xuống vị trí 44 và 60 vào năm 2017[2]. Tỷ lệ nữ giới trong Quốc hội giảm liên tục trong ba nhiệm kỳ từ 27,31% (khoá XI) xuống 25,76% (khóa XII) và 24,4% (khoá XIII). Một số chỉ tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra phấn đấu đến năm 2020 đạt từ 35% - 40% nữ giới tham gia vào các cơ quan dân cử ở Việt Nam đến nay vẫn chưa có nhiều khả năng đạt được[3]. Tỷ lệ nữ giới tham gia Quốc hội giảm nhẹ trong ba nhiệm kỳ liên tục từ năm 2002 đến năm 2016 (nhiệm kỳ XI đến nhiệm kỳ XIII). Mặc dù bầu cử Quốc hội khoá XIV (2016 - 2021), tỷ lệ nữ trong Quốc hội có tăng hơn nhiệm kỳ trước (đạt 26,72%) nhưng tốc độ tăng chậm và chưa có cơ sở vững chắc để khẳng định sự tăng tỷ lệ này là ổn định và bền vững.

Tóm lại, hiện nay ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào nghị viện, đồng nghĩa các nền dân chủ tốt hơn, mạnh hơn và mang tính đại diện hơn, hoạt động vì tất cả người dân. Mức tăng 1% mà chúng ta đã thấy trong năm 2017 thể hiện một sự cải thiện nhỏ về tính đại diện của phụ nữ trong nghị viện. Điều này đồng nghĩa công cụ mà IPU đã nỗ lực thực hiện trong nhiều năm, như hạn ngạch giới được phân bổ và được triển khai tốt, đang bắt đầu mang lại hiệu quả. Báo cáo của IPU cho thấy hạn ngạch bầu cử cho phụ nữ hiện đã lan rộng ra tất cả các khu vực trên thế giới với hơn 130 quốc gia thông qua và áp dụng chính sách hạn ngạch này.

Biểu đồ 2. Tỷ lệ nữ giới tham gia nghị viện theo khu vực



Nguồn: Women in parliament in 2017 – The year in review

Biểu đồ 3: Tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa từ năm 1946 đến nay



Nguồn: Cổng thông tin điện tử Quốc hội

Phụ nữ giữ vai trò Chủ tịch nghị viện

Theo số liệu thống kê của IPU năm 2017, 19.1% số ghế Chủ tịch nghị viện các nước (bao gồm cả Thượng viện và Hạ viện) do phụ nữ nắm giữ (tăng 1% so với năm 2016 và 3.3% so với năm 2015). Trong số đó, có 9 nữ chủ tịch được bầu mới, 7 nữ chủ tịch tái đắc cử (lần 2, thậm chí tái đắc cử lần 3) trong lần bầu cử năm 2016. Ba nước lần đầu tiên trong lịch sử có Chủ tịch nghị viện là nữ giới là Syria, Bahrain và Việt Nam.

37 nữ chủ tịch Hạ viện của các nước bao gồm: Austria, Bangladesh, Belize, Bolivia, Bosnia and Herzegovina, Botswana, Bulgaria, Denmark, Dominica, Dominican Republic, Ecuador, Fiji, Finland, Iceland, India, Italy, Lao People’s Democratic Republic, Latvia, Lesotho, Mauritius, Mozambique, Nepal, Netherlands, Peru, Rwanda, Saint Lucia, Serbia, Singapore, South Africa, Spain, Suriname, Syrian Arab Republic, Trinidad and Tobago, Turkmenistan, Uganda, United Arab Emirates và Việt Nam.

          16 nữ chủ tịch Thượng viện của các nước bao gồm: Antigua and Barbuda, Argentina, Austria, Bahamas, Barbados, Belgium, Equatorial Guinea, Gabon, Germany, Namibia, Netherlands, Russian Federation, South Africa, Swaziland, Trinidad and Tobago and Zimbabwe.

Biểu đồ 4. Tỷ lệ nữ giới giữ chức vụ Chủ tịch nghị viện theo giai đoạn



Nguồn: Women in parliament in 2016- The year in review

2.2. Sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí được bổ nhiệm

a. Phụ nữ là người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ

 Dựa vào báo cáo hàng năm của IPU, ta thấy có sự gia tăng về tỷ lệ phụ nữ giữ vai trò người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ. Năm 2016, có 8 phụ nữ được bổ nhiệm làm người đứng đầu Nhà nước (so với 6 phụ nữ năm 2000) và 13 phụ nữ được bổ nhiệm làm người đứng đầu Chính phủ (so với 3 phụ nữ năm 2000).

b. Phụ nữ là người đứng đầu các Bộ

Cùng với sự gia tăng đại diện phụ nữ tham gia nghị viện, số lượng phụ nữ giữ vai trò Bộ trưởng cũng có sự phát triển. Tuy nhiên, hai yếu tố này không nhất thiết phải liên quan và tác động đến nhau. Ví dụ như ở Rwanda, trong năm 2016, đứng đầu tỷ lệ phụ nữ tham gia nghị viện, nhưng chỉ xếp hạng thứ 7 về tỷ lệ nữ giới đứng đầu các Bộ với 47.4% (9 Bộ trưởng là nữ giới trong tổng số 19 Bộ trưởng).

Biểu đồ 5: Các quốc gia có số lượng nữ Bộ trưởng nhiều nhất trên thế giới (2017)



Nguồn: Women in Politics 2017 – UN Women

Bên cạnh những nước có tỷ lệ cao Bộ trưởng là nữ giới như liệt kê theo biểu đồ 5, vẫn tồn tại 13 nước không có phụ nữ nào nắm giữ chức vụ Bộ trưởng trong Chính phủ (theo kết quả bầu cử đến năm 2017) (xem biểu đồ 6). Chính phủ Việt Nam hiện nay (sau kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV) cũng chỉ có duy nhất một nữ bộ trưởng đó là Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến. 

Biểu đồ 6: Các quốc gia không có nữ Bộ trưởng



  Nguồn: Women in Politics 2017 – UN Women

III. Giải pháp tăng cường sự tham gia của nữ giới trong lĩnh vực chính trị của các quốc gia trên thế giới

Hiến pháp và pháp luật của mỗi quốc gia thúc đẩy sự tham gia chính trị của nữ giới ở những mức độ khác nhau thông qua việc cụ thể hóa các biện pháp tích cực vì bình đẳng giới như (1) hạn ngạch pháp lý cho nữ giới; (2) các quy định về hệ thống bầu cử thân thiện với nữ giới; (3) xóa bỏ định kiến giới trong văn hóa và giá trị truyền thống. Các nghiên cứu xu hướng nữ giới tham gia nghị viện trên thế giới đều cho thấy, hầu hết các quốc gia có sự thay đổi lớn về tỷ lệ nữ giới tham gia chính trị trong thời gian ngắn, đó là do đã áp dụng hay loại bỏ hạn ngạch giới hiệu quả hoặc thực hiện các cải cách thiết chế.

3.1. Áp dụng hạn ngạch giới

Việc đặt ra các hạn ngạch về giới như một chiến lược toàn cầu nhằm  nhanh chóng khắc phục tình trạng loại bỏ phụ nữ ra khỏi chính trường đã có từ lâu. Bản chất của hạn ngạch pháp lý cho các ứng cử viên nữ là yêu cầu tất cả các đảng (ở những quốc gia đa đảng) hay các cơ quan, tổ chức (trong trường hợp của Việt Nam) đề cử một phần trăm nhất định các ứng viên nữ vào các cơ quan dân cử như một trong các biện pháp tích cực thúc đẩy bình đẳng giới. "Phần trăm nhất định" này thường chiếm khoảng từ 25% đến 50% các ứng viên nghị viện do các đảng chính trị hay các cơ quan, tổ chức đề cử.

Việc sử dụng các biện pháp và hành động tích cực điển hình như các dạng thức của hạn ngạch giới là chiến lược quan trọng để nâng cao tỷ lệ nữ giới tham gia chính trị. Hạn ngạch pháp lý cho các ứng viên nữ được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực Mỹ Latinh và những xã hội hậu xung đột, như ở châu Phi, Trung Đông và Đông Nam châu Âu. Theo IPU, cho đến năm 2018, trên toàn thế giới có 130 quốc gia áp dụng hạn ngạch giới pháp lý cho nữ ứng cử viên vào các cấp của cơ quan dân cử. Trong số 22 quốc gia có tỷ lệ nữ giới tham gia nghị viện cao nhất thế giới năm 2018 thì phần lớn các quốc gia này đã sử dụng các hình thức khác nhau của hạn ngạch giới (17 quốc gia là Rwanda, Bolivia, Thụy Điển, Senegal, Ecuador, Nam Phi, Iceland, Nambia, Tây Ban Nha, Na Uy, Bỉ, Nicaragua, Timor Leste, Mexico, Hà Lan, Angola, và Slovenia) và chỉ có 5 quốc gia không sử dụng các biện pháp hạn ngạch giới (Andorra, Cuba, Mozambique, Phần Lan và Đan Mạch).

Một dạng thức tiêu biểu của hạn ngạch giới đó là “ghế dành riêng cho nữ giới”. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, quốc gia có tốc độ gia tăng mạnh về tỷ lệ nữ tham gia nghị viện trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là Nepal, do đã áp dụng biện pháp chiến lược ghế dành riêng cho nữ giới vào nghị viện. Nepal đạt thành công nhanh và ấn tượng với tỷ lệ tăng là 27% chỉ trong 10 năm từ 2000 đến 2010. Ghế dành riêng cho nữ giới có thể được xác định thông qua hình thức bầu cử gián tiếp hoặc bổ nhiệm, cũng có thể được các công dân xác định thông qua bầu cử phổ thông, trực tiếp.

Hình thức bầu cử trực tiếp: ghế dành riêng được xác định thông qua một quá trình dân chủ, trong đó, các nữ ứng cử viên đại diện cho các đảng khác nhau hoặc ứng cử viên độc lập cạnh tranh trực tiếp với nhau thông qua bầu cử trực tiếp mà kết quả được xác định bởi lá phiếu phổ thông của cử tri.

Hình thức bầu cử gián tiếp: nữ ứng cử viên nhận được vị trí ghế dành riêng nhờ vào sự bảo trợ, ủng hộ của lãnh đạo, các đảng chính trị hoặc của các nghị sĩ.

Hình thức bổ nhiệm: các ứng cử viên nhận được vị trí vào ghế dành riêng nhờ sự bổ nhiệm bảo trợ (patronage appointment) của lãnh đạo, các đảng chính trị, hoặc của các nghị sĩ.

3.2. Cải cách hệ thống bầu cử

Các hệ thống bầu cử hiện nay được chia làm ba loại chính: đại diện theo đa số; đại diện phối hợp; đại diện theo tỷ lệ. Mỗi hệ thống bầu cử lại có nhiều thể loại nhỏ. Châu Á - Thái Bình Dương có ít quốc gia sử dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ nhưng những quốc gia sử dụng hệ thống bầu cử theo đại diện như Cambodia, TimorLeste, và Sri Lanka đều có tỷ lệ nữ trong nghị viện tăng trong thập niên vừa qua. Các nghiên cứu từ giữa những năm 1980 đã chỉ ra rằng, các hệ thống bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia nghị viện của nữ giới. Nhiều phụ nữ thường được bầu vào nghị viện trong các hệ thống bầu cử sử dụng danh sách của đảng có tỷ lệ đại diện hơn là trong các hệ thống bầu cử theo đa số. Tỷ lệ nữ giới tham gia nghị viện trong các hệ thống bầu cử hỗn hợp thường ít hơn tỷ lệ bầu cử theo đa số thuần tuý.

Nghiên cứu của UNDP (2012) lý giải sự thành công hơn của nữ giới dưới các hệ thống bầu cử theo đại diện (và hệ thống bầu cử hỗn hợp sử dụng phiếu bầu theo tỷ lệ) là do các đảng đều có động cơ bầu cử là tối đa hóa sự thu hút tập thể trong các danh sách của đảng bằng cách đưa các ứng cử viên từ các nhóm xã hội lớn vào danh sách ứng viên của đảng mình. Việc thiếu bất kỳ thành phần xã hội nào (kể cả phụ nữ), có thể cho thấy sự phân biệt và do đó sẽ có nguy cơ bị trừng phạt trong bỏ phiếu. Ngược lại, trong hệ thống người thắng cử có nhiều phiếu nhất, các ứng viên nghị viên tranh cử trong khu vực bầu cử đơn thành viên. Thành viên các đảng địa phương thường muốn một đại diện tối đa hóa các cơ hội thắng cử trong khu vực bầu. Lựa chọn phương án ngầm định - một ứng viên phản ánh các đặc điểm và phẩm chất của nghị sĩ khoá trước - có thể là phương án nổi trội trong nhiều trường hợp do chiến lược tối đa hóa phiếu bầu được xây dựng nhằm giảm thiểu rủi ro bầu cử.

Như vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các hệ thống bầu cử khác nhau cho thấy: (1) Hệ thống bầu cử theo đa số cho tỷ lệ nữ giới trong nghị viện thấp hơn hệ thống bầu cử hỗn hợp và bầu cử theo tỷ lệ đại diện; (2) Các quốc gia ở châu Á - Thái Bình Dương sử dụng hệ thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện, có tỷ lệ nữ giới trong nghị viện tăng trong những năm gần đây; (3) Quy mô bầu cử có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ nữ giới tham gia nghị viện trong hệ thống bầu cử theo tỷ lệ; (4) số lượng và giới hạn nhiệm kỳ tái tranh cử cho những nghị sĩ tiếp tục ứng cử lại trong nhiệm kỳ sau ảnh hưởng đến việc đề cử và trúng cử của nữ ứng cử viên mới. Nhiều nghị sĩ tái cử sẽ làm giảm số lượng nữ ứng viên được đề cử và trúng cử; (5) Hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ theo danh sách đảng tạo điều kiện thuận lợi cho các hành động tích cực nhằm tăng tỷ lệ nữ trong nghị viện; (6) Các đảng cánh tả thường có xu hướng ủng hộ các hành động tích cực nhằm tăng tỷ lệ nữ trong nghị viện.

3.3. Xóa bỏ định kiến giới trong văn hóa và giá trị truyền thống

Nhiều nghiên cứu ở Tây Âu, Trung Đông và Việt Nam chỉ ra rằng, văn hóa có mối liên hệ với tỷ lệ nữ giới được bầu vào các cơ quan dân cử. Văn hóa và các giá trị truyền thống là những ràng buộc quan trọng cho việc đạt được bình đẳng giới trong xã hội nói chung và trong chính trị nói riêng thông qua việc hạn chế cơ hội đối với nữ giới trong việc tham gia vào các cơ quan dân cử. Quan niệm về vai trò giới trong gia đình và xã hội thực sự có ảnh hưởng đến cơ hội nữ giới tham gia vào nghị viện. Ở những nước mà vai trò của nữ giới chủ yếu gắn với trách nhiệm hoàn thành các công việc chăm sóc trong gia đình, phụ nữ sẽ có ít thời gian để phát triển sự nghiệp và tham gia vào đời sống chính trị, đặc biệt là tham gia vào lãnh đạo, quản lý. Định kiến giới và các giá trị truyền thống cho rằng, nam giới làm lãnh đạo chính trị giỏi hơn nữ giới là rào cản ảnh hưởng đến nữ giới tham gia chính trị hoặc lãnh đạo, quản lý.

Tài liệu tham khảo:

1. TS. Lương Thu Hiền (2017), Nữ giới tham gia Nghị viện: Xu hướng và những yếu tố ảnh hưởng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

2. UNDP (2012), Gender Equaltiy in Elected Office in Asia Pacific: Six Actions to Expand Women’s Empowerment, tr.29-30.

3. International IDEA (2005) Women in Politics: Beyond Numbers.

4. Pippa Norris, Mona Lena Krook (2011) Gender Equality in Elected Office: A Six - Step Action Plan, tr.19.

5. IPU (2017), Women in parliament in 2016- The year in review.

6. UN Women (2017), Women in Politics 2017.



[1] IPU Parline Database, http://www.ipu.org/parline-e/parlinesearch.asp. Algeria, Andorra, Angola, Argentina, Belgium, Burundi, Costa Rica, Cuba, Denmark, Ecuador, Finland, Germany, Grenada, Guyana, Iceland, Italy.

[2] Theo cơ sở số liệu năm 2016 của Liên minh Nghị viện.

[3] Luật Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

ThS. Đặng Tiến Dũng

Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ





















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn