TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện đảo

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 quy định: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng đã quy định “việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn”.

Từ chủ trương này, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã kịp thời thể chế hóa quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và tổ chức, hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp nói riêng, phù hợp với đặc điểm vùng, miền và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế- xã hội của từng địa phương nói chung và đối với các huyện đảo nói riêng. Bài viết tập trung khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và tổ chức, hoạt động của cơ quan chuyên môn cấp huyện ở một số huyện đảo (trừ huyện Trường Sa; Hoàng Sa; Phú Quốc và huyện Vân Đồn), qua đó đề xuất một số giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo.

1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của một số huyện đảo

- Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên, tiềm năng phát triển kinh tế của các huyện đảo

Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta. Quản lý, bảo vệ các đảo và dải ven biển luôn là mối quan tâm của nhà nước Việt Nam. Việt Nam có 12 huyện đảo, ngoại trừ 02 huyện đảo xa bờ (Trường Sa và Hoàng Sa), đến cuối năm 2004, Việt Nam có 10 huyện đảo ven bờ thuộc 07 tỉnh và thành phố đã được thành lập: Quảng Ninh: (2), Hải Phòng: (2), Quảng Trị: (1), Quảng Ngãi: (1), Bình Thuận: (1), Bà Rịa- Vũng Tàu: (1) và Kiên Giang: (2). Các huyện đảo tập trung ở vùng biển Bắc Bộ: (4), Nam Bộ: (3) và phân bố phân tán ở vùng biển Trung Bộ: (3), có quy mô về diện tích và dân số rất khác nhau.

Theo phạm vi phân bố có thể chia ra các nhóm: 04 huyện đảo ven bờ Bắc Bộ: Cô Tô, Vân Đồn, Cát Hải, Bạch Long Vĩ; 03 huyện đảo ven bờ Trung Bộ: Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý; 03 huyện đảo ven bờ Nam Bộ: Côn Đảo, Kiên Hải, Phú Quốc.

Theo độ lớn huyện đảo ven bờ, có thể chia thành 4 nhóm: nhóm huyện đảo ven bờ lớn: Phú Quốc, Vân Đồn, Cát Hải; nhóm huyện đảo ven bờ khá lớn: Côn Đảo, Cô Tô; nhóm huyện đảo ven bờ trung bình: Kiên Hải, Phú Quý, Lý Sơn; nhóm huyện đảo ven bờ nhỏ: Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ.

Hiện nay, căn cứ theo điều kiện thực tế và dựa trên quan điểm về mối tương quan giữa chức năng bảo đảm an ninh quốc phòng với nhiệm vụ phát triển kinh tế. Theo quan niệm, vai trò về chức năng đảm bảo an ninh quốc phòng của huyện đảo phụ thuộc vào vị trí phân bố của đảo: càng gần vùng biển quốc tế và vùng biển nước láng giềng, vai trò đó càng trở nên quan trọng. Để đảm bảo chức năng quan trọng đó, việc đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng trên đảo phục vụ quốc phòng và phát triển kinh tế phải được ưu tiên đặc biệt; đồng thời việc phát triển kinh tế phải phục vụ cho mục tiêu chung là đảm bảo an ninh quốc phòng, thể hiện ngay trong quy hoạch bố trí dân cư và sản xuất kinh doanh. Theo đó các huyện đảo của Việt Nam chia thành 3 nhóm: Nhóm huyện đảo tiền tiêu - biên giới: Cô Tô, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ; Nhóm huyện đảo tiền tiêu: Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo; Nhóm huyện đảo tuyến trong: Vân Đồn, Cát Hải, Kiên Hải.

- Điều kiện tự nhiên, tài nguyên

Địa hình các huyện đảo chủ yếu là đồi núi thấp với sườn dốc 15-35 độ. Các kiểu địa hình phổ biến nhất là địa hình núi thấp trên đá vôi, trên đá bazan, đá granit và trên các đá trầm tích có thế nằm khác nhau. Các đảo ven bờ hiện nay vào giai đoạn trước chủ yếu thuộc về chế độ lục địa, có xen kẽ với điều kiện biển nông ở từng khu vực. Trong giai đoạn sau trở thành các đảo biển thực thụ; tuy nhiên trong những thời kỳ biển rút (thuộc thời kỳ băng hà) chúng lại trở thành những đồi núi sót nổi trên mặt đồng bằng bóc mòn- tích tụ ven biển.

Tài nguyên sinh vật và du lịch là thế mạnh của các huyện đảo. Thực vật trên đảo trước hết có giá trị khoa học cao với 08 loài đặc hữu ở Côn Đảo. Các huyện đảo Bắc Bộ có trên 800 loài với 23 loài cây quý hiếm, các huyện đảo Nam Bộ có trên 1300 loài với 20 loài quý hiếm. Giá trị quan trọng nhất của thảm thực vật trên đảo chính là vai trò bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ tài nguyên đất và nước của đảo. Động vật hoang dã trên đảo đã bị giảm sút nghiêm trọng do bị săn bắt và thu hẹp địa bàn sống. Sinh vật trên bãi triều và vùng biển quanh đảo rất phong phú và có giá trị kinh tế (bào ngư, trai ngọc…).

- Tiềm năng phát triển kinh tế

Ngoài vị thế đặc biệt quan trọng trong bảo vệ an ninh đất nước và giao thương quốc tế, các huyện đảo còn có tiềm năng to lớn cho phát triển kinh tế biển và ven biển, trong đó lớn nhất là mối liên kết chặt chẽ với các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.

Bốn huyện đảo Cô Tô, Bạch Long vĩ, Cát Hải gắn với vùng kinh tế  trọng điểm Hà Nội- Quảng Ninh- Hải Phòng; huyện đảo Lý Sơn gắn với vùng kinh tế Dung Quất thuộc vùng kinh tế trọng điểm Trung Trung Bộ; huyện đảo Côn Đảo và một phần huyện đảo Phú Quý có liên kết mật thiết với vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, các dạng tiềm năng chính của các huyện đảo bao gồm ngư nghiệp, du lịch và dịch vụ biển.

Tiềm năng phát triển ngư nghiệp: là hướng đi rất quan trọng cho phát triển kinh tế biển- đảo. Nhìn chung, tất cả các huyện đảo đều có tiềm năng lớn cho phát triển ngư nghiệp, do có nguồn lợi bãi triều phong phú, phân bố gần các ngư trường lớn, có điều kiện nuôi trồng và có nguồn lao động truyền thống đi biển và đánh bắt xa bờ.

Tiềm năng phát triển du lịch: là tiềm năng to lớn về phát triển du lịch của  các huyện đảo, các yếu tố làm nên ưu thế đấy là tính đa dạng của cảnh quan, bãi biển đẹp, thắng cảnh, đặc thù nổi bật về địa chất- địa mạo, phong phú về nguồn gen, giống cây con (các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên)…

- Đặc điểm về địa chính trị

Vị trí tiền tiêu- biên giới là một vị thế quan trọng nhất của các đảo ven bờ Việt Nam, nhờ đó mà hình thành đường cơ sở thẳng mở rộng vùng nội thủy và vùng đặc quyền kinh tế, mở rộng đường biên giới biển, bảo vệ chủ quyền trên biển, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế vùng biển, kinh tế cửa khẩu, giao thông và dịch vụ quốc tế. Bên cạnh đó, một số đảo ven bờ còn là cơ sở để xác định đường biên giới quốc gia trên biển và vùng chồng lấn với các nước láng giềng. Cụ thể như, trường hợp phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đi cách đảo Bạch Long Vỹ gần nhất về phía đông 15 hải lý.

Các đảo ven bờ là các trung tâm kinh tế vùng biên, cửa khẩu thương cảng, giao thông và dịch vụ quốc tế. Trong lịch sử đến sau này, đề cập đến các thương cảng của Việt Nam phải kể đến như Vân Đồn, Lý Sơn (là thương cảng quốc tế với vai trò là nơi trao đổi, buôn bán tấp nập). Bên cạnh đó, các đảo như Vĩnh Thực, Cô Tô, với vị thế tiền tiêu biên giới của mình có thể trở thành trung tâm lớn để phát triển kinh tế, cửa khẩu, thương mại, dịch vụ, du lịch…

Các đảo ven bờ là những tiền đồn vững chắc, với vị trí là những chiến hạm không thể bị đánh chìm, bảo vệ an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong lịch sử đấu tranh của dân tộc ta, với vị thế là đảo tiền tiêu – có vị trí chiến lược quan trọng, chúng ta có “hòn đảo anh hùng” Cồn Cỏ, Bạch Long Vỹ, bên cạnh đó các đảo khác có vai trò đặc biệt quan trọng trong quốc phòng như: Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo…

Với vị trí cửa ngõ của đất liền, các đảo ven bờ mang lại nhiều lợi ích quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của các tỉnh, huyện nói riêng. Điều này thể hiện rõ, với vai trò là các trung tâm du lịch lớn của đất nước như: Cát Bà, Cô Tô, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo… với vai trò trong thế mạnh đánh bắt và nuôi trồng hải sản của các đảo ven bờ, đóng góp sản lượng lớn trong tổng sản lượng của cả nước.

Như vậy, với đặc điểm vị thế của mình, các huyện đảo có vai trò là hành lang kinh tế quan trọng của đất nước, là vị trí tiền tiêu – biên giới trong đảm bảo an ninh – quốc phòng, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, cần có những chính sách phát triển đặc thù để phát huy được thế mạnh vốn có.

2. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo

2.1. Khái quát về đơn vị hành chính cấp xã và số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo

- Về tổ chức đơn vị hành chính cấp xã.

Trong 08 huyện đảo thì có 03 huyện đảo không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã gồm: Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị), Bạch Long Vỹ (thành phố Hải Phòng), Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu).

Có 5 huyện đảo tổ chức đơn vị hành chính cấp xã. Cụ thể số lượng đơn vị hành chính cấp xã như sau: huyện Cô Tô: 03 đơn vị hành chính cấp xã; huyện Cát Hải: 12 đơn vị hành chính cấp xã; huyện Lý Sơn: 03 đơn vị hành chính cấp xã; huyện Phú Quý: 03 đơn vị hành chính cấp xã; huyện Kiên Hải: 04 đơn vị hành chính cấp xã. Các huyện Cô Tô, Cát Hải, Lý Sơn, Phú Quý, các xã đều tập trung trên cùng một đảo, riêng huyện Kiên Hải, đặc thù mỗi xã trên một đảo độc lập, trung tâm hành chính huyện được đặt tại xã Hòn Tre.

- Về số lượng cơ quan chuyên môn cấp huyện:

Huyện

Số lượng CQ chuyên môn

Tên cơ quan chuyên môn

Cồn Cỏ

02

Văn phòng HĐND và UBND (kiêm văn phòng cấp ủy); Phòng Kinh tế xã hội (thực hiện tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước trên đảo).

Bạch Long Vĩ

05

Văn phòng HĐND và UBND (kiêm thêm lĩnh vực nội vụ); Phòng Kinh tế kế hoạch (gồm các lĩnh vực: kinh tế, tài nguyên và môi trường, công thương); Phòng Văn xã (bao gồm các lĩnh vực: văn hóa xã hội; lao động- thương binh và xã hội); Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính.

Côn Đảo

10

Văn phòng HĐND và UBND; Phòng Nội vụ- Lao động- Thương binh và Xã hội; Phòng Tài chính- Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Văn hóa và Thông tin; Phòng Tư pháp; Thanh tra; Phòng Kinh tế; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế.

Cô Tô

10

Văn phòng HĐND và UBND; các phòng: Nội vụ, Lao động- Thương binh và Xã hội; Tài chính- Kế hoạch và Công thương, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa và Thông tin, Tài nguyên- Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tư pháp, Y tế, Thanh tra huyện.

Cát Hải

12

Văn phòng HĐND và UBND; các phòng: Nội vụ, Tư pháp, Tài chính- kế hoạch, Tài nguyên và Môi trường, Lao động- Thương binh và Xã hội, Văn hóa và Thông tin, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Nông nghiệp và phát triển nông thôn,Thanh tra huyện.

Lý Sơn

07

Văn phòng HĐND và UBND; các phòng: Tài chính- Kế hoạch, Tài nguyên và Môi trường, Văn hóa và Thông tin, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo,Y tế, Kinh tế hạ tầng.

Phú Quý

05

Văn phòng HĐND và UBND; các phòng: Văn xã (trên cơ sở sát nhập các phòng: giáo dục và đào tạo; y tế; văn hóa- thông tin và bổ sung nhiệm vụ lao động- thương binh và xã hội); phòng Tư pháp; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Kinh tế- Tài chính (trên cơ sở sát nhập 2 phòng: kinh tế và tài chính- kế hoạch).

Kiên Hải

10

Văn phòng HĐND và UBND; các phòng: Thanh tra huyện, Tài chính- Kế hoạch, Kinh tế hạ tầng- tài nguyên và môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Lao động- Thương binh và Xã hội, Nội vụ, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa- thông tin, Tư pháp.

2.2. Đánh giá tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo

Theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (Điều 72, Điều 73) và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Điều 9) tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo đạt một số kết quả như sau:

- Số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo phù hợp với tình hình thực tế của địa phương dân số ít, diện tích nhỏ; đảm bảo đúng tinh thần tinh gọn tổ chức bộ máy;

- Chức năng; nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo đã được xác định cụ thể, rõ ràng; việc sáp nhập, chuyển giao giữa các cơ quan được thực hiện kịp thời, không gây xáo trộn, khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các phòng, ban chuyên môn, bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan thực hiện. 

- Hoạt động của các cơ quan chuyên môn tại các huyện đảo đã đi vào nền nếp, phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công; các cơ quan chuyên môn kịp thời tham mưu cho UBND huyện đảo xây dựng và triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn, hàng năm trên các lĩnh vực quản lý, thực hiện tốt nhiệm vụ được UBND huyện đảo phân cấp, ủy quyền; thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra theo quy định pháp luật;

- Trên cơ sở văn bản hướng dẫn của Trung ương, một số huyện đảo đã tiến hành sáp nhập một số cơ quan chuyên môn cấp huyện, đó là huyện Phú Qúy (4 phòng chuyên môn ) và huyện Lý Sơn (07 phòng chuyên môn) như sau:

+  Thực hiện theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thực hiện Kế hoạch số 82-KH/TW về thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2018 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Kết luận số 634-KL/TW ngày 21/8/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XIII) về các đề án sắp xếp tổ chức bộ máy của huyện Phú Quý theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII). Một số tỉnh đã có Đề án sáp nhập các phòng chuyên môn cấp huyện như UBND tỉnh Bình Thuận đã có Quyết định số 2447/QĐ-UBND ngày 19/9/2018 về việc phê duyệt Đề án sáp nhập các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện Phú Quý theo hướng tinh gọn, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Do đó, hiện nay UBND huyện Phú Quý có 04 cơ quan chuyên môn trực thuộc gồm: Phòng Văn xã (trên cơ sở sáp nhập 03 phòng: Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Phòng Văn hóa và Thông tin và bổ sung nhiệm vụ Lao động Thương binh và Xã hội từ Phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và Xã hội), Phòng Tư pháp, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế - Tài chính (trên cơ sở sáp nhập Phòng Kinh tế và Phòng Tài chính - Kế hoạch);

+ Thực hiện Đề án số 04-ĐA/TU ngày 22/11/2018 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi sắp xếp, đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị huyện Lý Sơn như sau: gồm có Phòng Văn xã (trên cơ sở sáp nhập 03 phòng: Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Phòng Văn hóa và Thông tin và bổ sung nhiệm vụ Lao động Thương binh và Xã hội từ Phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và Xã hội), Phòng Tư pháp, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế - Tài chính (trên cơ sở sáp nhập Phòng Kinh tế và Phòng Tài chính - Kế hoạch).

Bên cạnh đó, tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:

- Theo quy định, số lượng cơ quan chuyên môn tại huyện đảo không quá 10 (quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh), điều này dẫn đến tình trạng một cơ quan chuyên môn tại các huyện đảo phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ của 2 hoặc 3 cơ quan chuyên môn so với các huyện ở đất liền (Phòng Nội vụ - Lao động, Thương binh và Xã hội; Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thôn), các cơ quan ghép này thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên các lĩnh vực khác nhau và chịu sự quản lý chuyên môn của nhiều sở, ngành, gây khó khăn trong công tác tham mưu.

- Các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện đảo hiện nay bố trí chưa hợp lý; ví dụ: Có huyện đảo chỉ có một phòng chuyên môn tham mưu cho UBND hầu như tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước trên địa bàn, vì vậy đội ngũ công chức không đáp ứng được đúng các yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ, bên cạnh đấy biên chế được bố trí không đảm bảo, tình trạng phải kiêm nhiệm nhiều việc dẫn đến tình trạng chồng chéo, không có tính khách quan, độc lập trong một số nhiệm vụ; ví dụ: vừa xây dựng kế hoạch, vừa làm công tác thẩm định và tổ chức thực hiện. (Huyện Cồn Cỏ có số lượng cơ quan chuyên môn ít nhất trong số 08 huyện đảo bao gồm: Văn phòng HĐND & UBND kiêm Văn phòng cấp uỷ và Phòng kinh tế- xã hội. Ban Xây dựng Đảng thực hiện lĩnh vực nội vụ).

- Số lượng các cơ quan chuyên môn chưa căn cứ vào đặc thù của  từng huyện đảo để thành lập các phòng, ban. Do khối lượng công việc cũng như yêu cầu thực tế không cần thiết phải thành lập phòng với đầy đủ, chức năng, nhiệm vụ, biên chế gây lãng phí nguồn lực. (ví dụ: phòng Y tế, phòng Tư pháp)

- Một số cơ quan tham mưu giúp việc của huyện ủy và các cơ quan chuyên môn của UBND huyện có chức năng, nhiệm vụ tương đồng dẫn đến cồng kềnh bộ máy, chống chéo về chức năng, nhiệm vụ (huyện Lý Sơn). Cụ thể:

+ Cơ quan Ủy ban kiểm tra huyện ủy và Thanh tra huyện: đều có chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động các cơ quan tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ công chức, viên chức. Quy trình, thủ tục, nguyên tắc tổ chức thanh tra và kiểm tra, giám sát đều là cơ sở để làm căn cứ cho việc xử lý kỷ luật đối với đảng viên, công chức, viên chức vi phạm. Nhiều vụ việc cả hai cơ quan cùng thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, dẫn đến đôi khi chồng chéo về nhiệm vụ, về đối tượng thanh tra.

+ Ban Tổ chức huyện ủy và Phòng Nội vụ- Lao động- Thương binh và Xã hội cùng có chức năng tham mưu, quản lý về tổ chức bộ máy; quản lý về biên chế; quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức… song trùng nhau về một số khâu trong tổ chức, bộ máy; cùng nghiệp vụ quản lý tuy khác nhau về đối tượng, phạm vi nhưng lặp lại quy trình và thủ tục trong các khâu về công tác cán bộ.

+ Ban Tuyên giáo Huyện ủy và Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện cùng lĩnh vực công tác về chính trị; công tác phối hợp tuyên truyền, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước….trong khi thực tế hoạt động của Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện không hiệu quả, lãng phí nguồn lực. Trung tâm được bố trí 03 biên chế, trong đó 01 người đáp ứng được yêu cầu công tác bồi dưỡng, các vị trí còn lại làm công việc hành chính (01 văn thư, 01 kế toán)….

3. Một số giải pháp kiện toàn tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo

3.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn cấp huyện

Rà soát sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng: (1) Quy định khung số lượng cơ cấu tổ chức, biên chế, cấp phó các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện để thành lập phù hợp với đặc điểm của từng huyện đảo; rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan chuyên môn cấp huyện theo mô hình chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo và theo phân loại đơn vị hành chính loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III; (2) Nghiên cứu hợp nhất một số cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng; rà soát, sắp xếp cơ cấu tổ chức bên trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; (3) Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực giữa các cấp hành chính và giữa các cơ quan cùng cấp, bảo đảm nguyên tắc “một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính”; đồng thời, hướng dẫn thống nhất về địa vị pháp lý, sử dụng con dấu của cơ quan chuyên môn thuộc cấp huyện theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở quy định khung của cấp huyện quyết định hợp nhất, thành lập hoặc không thành lập cơ quan chuyên môn thuộc cấp huyện quản lý theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính về tổ chức bộ máy.

3.2. Tổ chức cơ quan chuyên môn cấp huyện cần phải phù hợp với yếu tố đặc thù và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng huyện đảo

Trên cơ sở thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương khóa XII, một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng thời căn cứ yếu tố đặc thù của huyện đảo như thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, biển đảo trong tình hình mới; thực hiện nhiệm vụ của các khu du lịch quốc gia; thường xuyên phải ứng phó với thiên tai; hoặc căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế- xã hội phù hợp lợi thế, tiềm năng của nhóm huyện đảo phát triển các ngành kinh tế: ngư nghiệp, dịch vụ và thương mại, phát triển du lịch biển; nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên và môi trường trên đảo, môi trường biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản; quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng. Thực thi các nhiệm vụ cụ thể của quản lý hành chính nhà nước, tập trung vào hướng dẫn và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện quy hoạch; quản lý đất đai; xây dựng, môi trường; phát triển kinh tế biển đảo; văn hóa – xã hội, giữ gìn an ninh trật tự xã hội trên địa bàn. Tổ chức cung ứng một số dịch vụ công phù hợp với đặc thù của người dân trên đảo theo phân cấp, uỷ quyền của UBND cấp tỉnh. Do vậy việc tổ chức các cơ quan chuyên môn theo hướng phòng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; không nhất thiết cấp tỉnh có sở, ban, ngành nào thì cấp huyện có phòng tương ứng; số lượng các phòng, phù hợp với đặc điểm hải đảo và yêu cầu quản lý nhà nước của từng huyện đảo.

Ngoài ra tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đảo cần có sự phân biệt giữa huyện đảo không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã và tổ chức đơn vị hành chính cấp xã. Cụ thể như sau:

- Đối với những huyện đảo không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã, đề xuất tổ chức phòng chuyên môn theo nhóm lĩnh vực, trên cơ sở đó để thành lập các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện:

+  Quản lý các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường;

+ Quản lý lĩnh vực kinh tế (du lịch, ngư nghiệp, nông lâm nghiệp; dịch vụ thương mại);

+ Quản lý lĩnh vực Văn hóa- xã hội (lao động- thương binh và xã hội; văn hóa; giáo dục);

+ Văn phòng HĐND và UBND.

- Đối với những huyện đảo tổ chức đơn vị hành chính cấp xã, đề xuất tổ chức các phòng chuyên môn trên cơ sở các nhóm lĩnh vực như sau:

+ Quản lý kinh tế biển: ngư nghiệp, du lịch biển, thương mại dịch vụ;

+ Quản lý tài nguyên, môi trường: tài nguyên, môi trường trên đảo, môi trường biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản;

+ Quản lý quy hoạch, đất đai, xây dựng;

+ Quản lý văn hóa- xã hội;

+ Quản lý an ninh, trật tự xã hội;

+ Văn phòng HĐND và UBND.

3.3. Đẩy mạnh phân cấp cho huyện đảo một số chính sách đặc thù khác với các huyện trong đất liền; ví dụ như:

- Quản lý về an ninh đối với du lịch biển đảo; kiểm soát khách du lịch; cơ chế chính sách khuyến khích nhà đầu tư phát triển du lịch, trung tâm chế biến nghề cá, đóng sửa tàu thuyền; phân cấp chính quyền huyện đảo quyền xử lý vi phạm về tài nguyên môi trường biển đảo, đăng kiểm tàu cá; quyền quyết định chủ trương đầu tư các dự án phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện;

- Tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền huyện đảo trong việc giải quyết những tình huống phát sinh mang tính khẩn cấp về an ninh, trật tự, về an ninh quốc phòng, thiên tai, địch họa trong trường hợp mất liên lạc với đất liền;

- Phân cấp cho huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp đổi, cấp mới) vì hiện nay chỉ có cấp lần đầu là giao cho huyện, còn lại do Sở Tài nguyên và môi trường và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp tỉnh. Điều này không phù hợp vì huyện đảo xa đất liền, không thể đi lại kịp thời để làm thủ tục cho người dân;

- Phân cấp việc chủ động quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, quyết định dự toán thu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện, dự toán thu chi ngân sách địa phương và phân bổ ngân sách;…

          Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2014), Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII: Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

3. Quốc hội (2016), Luật số 77/2015/QH13 ngày 29/6/2015, Luật tổ chức chính quyền địa phương.

4. Quốc hội (2017), Nghị quyết  số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

5. Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ (2020), Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện Dự án “Điều tra thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền huyện đảo”.

ThS. Nguyễn Thị Quỳnh, Nghiên cứu viên - Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ





















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn