TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Thực trạng về thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập của nước ta hiện nay (Qua số liệu điều tra xã hội học)

1. Đặt vấn đề

Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị như:  Nghị quyết số 55/NQ-UBTVQH10 UBTVQH khóa X về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định số 07/1999/NĐ-CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước; Chỉ thị số 38/1998/CT-TTg về triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan;  Thông tư liên tịch 09/1998/TTLT-TCCP-LĐLĐ hướng dẫn về tổ chức và nội dung hội nghị cán bộ trong cơ quan; Quyết định số 11/1998/QĐ-TCCP-CCVC kèm theo Quy chế đánh giá công chức hàng năm. Đặc biệt, ngày 09/1/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan. Trên cơ sở Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BNV ngày 13/ 01/2016 nhằm cụ thể hóa một số nội dung về Tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; chế độ báo cáo định kỳ. Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác của Nhà nước có các quy định liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ sở như: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2013), Luật Giao dịch điện tử; Luật Khiếu nại; Luật tố cáo; Luật Phòng chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức…

Việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị là nhằm:

- Phát huy quyền làm chủ của CB,CC,VC và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị;

- Góp phần xây dựng đội ngũ CB,CC,VC  là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước;

- Phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

Hiệu quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị được đánh giá thông qua các tiêu chí cụ thể sau:

- Nhận thức, năng lực thực hành dân chủ của đội ngũ CB,CC,VC. Muốn thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị, trước hết người công chức, viên chức phải nắm bắt và hiểu biết về dân chủ cơ sở, bao gồm những việc công khai để cán bộ, công chức, viên chức được biết; những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến và những việc CB,CC,VC được giám sát, kiểm tra. Điều này đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện dân chủ cũng như kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện dân chủ.

- Kết quả phát huy quyền làm chủ của CB,CC,VC. Đánh giá hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị còn được thể hiện qua kết quả thực hiện quyền làm chủ của CB,CC,VC, thể hiện qua việc CB,CC được trình bày ý kiến, đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình khác với ý kiến của người phụ trách trực tiếp trong khi thi hành công vụ, nhưng vẫn phải chấp hành sự chỉ đạo và hướng dẫn của người phụ trách trực tiếp, đồng thời có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp có thẩm quyền. Hoặc đối với viên chức, họ được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật, được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ được giao. Người CB,CC,VC được thẳng thắn đóng góp ý kiến để xây dựng nội bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh. 

- Vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc triển khai thực hiện các nội dung dân chủ ở cơ quan, đơn vị. Dân chủ cơ sở chỉ có thể được thực hiện tốt khi có sự tham gia của CB,CC,VC và đặc biệt là sự lãnh đạo, ủng hộ, hỗ trợ của những người lãnh đạo. Để thực hiện hiệu quả dân chủ trong cơ quan, đơn vị thì người cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý phải không ngừng tự phấn đấu, rèn luyện nâng cao phẩm chất năng lực để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Đề cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu chính là nhấn mạnh đến vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý của họ trong cơ quan, đơn vị, cụ thể hóa công việc họ đảm nhận, từ lập kế hoạch - kiểm tra - giám sát đến đánh giá chất lượng công việc của nhân viên cấp dưới. Bên cạnh đó, những người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng thuyết phục CB,CC,VC bằng chính công việc và lối sống của mình, biết lắng nghe chia sẻ, có khả năng vận động, thuyết phục, gần gũi và hòa đồng với CB,CC,VC để tạo ra các mối liên hệ hỗ trợ cho việc thực thi dân chủ tốt hơn. Bên cạnh đó, đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp thuộc các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều phải nhận thức được việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị là cần thiết, góp phần chấn chỉnh, tăng cường các mặt quản lý, cải cách hành chính, có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố niềm tin của đội ngũ CB,CC,VC vào sự lãnh đạo, điều hành của cấp ủy Đảng, chính quyền, công đoàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Nhận thức đó là nhân tố quan trọng để dân chủ được phát huy một cách tối đa hiệu quả, giúp các cơ quan, đơn vị giữ vững ổn định và đoàn kết, tập trung vào công tác quản lý nhà nước và hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình.

- Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, thể hiện qua năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ hàng năm của các cơ quan, đơn vị sẽ phản ánh được sự chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác; sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí sử dụng biên chế hợp lý, tiết kiệm, nâng cao chất lượng, hiệu suất lao động, hiệu quả trong sử dụng kinh phí, thực hành tiết kiệm, tăng thu nhập cho CB,CC,VC. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị cũng thể hiện chất lượng của việc ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý và sử dụng tài sản công; việc thực hiện quản lý thu, chi tài chính tại đơn vị; việc tiết kiệm chi thường xuyên theo định mức biên chế và chi bổ sung thu nhập cho CB,CC,VC và người lao động… Nếu quyền dân chủ của CB,CC,VC được đảm bảo và không ngừng phát huy thì kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị sẽ không ngừng được củng cố, nâng cao.

 - Kết quả phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân trong cơ quan, đơn vị. Đây là tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá được hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt dân chủ sẽ tạo điều kiện để các CB,CC,VC cũng như toàn xã hội tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước; CB,CC,VC  sẽ dễ dàng nhận biết và chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, buộc các CB,CC,VC phải có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ, nhiệm vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định bởi, mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để tư lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý.

- Mức độ tham gia kiểm tra, giám sát trong việc tổ chức thực hiện dân chủ của các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể như tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban Thanh tra nhân dân… Các tổ chức đoàn thể trong cơ quan, đơn vị có vai trò quan trọng, tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong CB,CC,VC, tạo mọi điều kiện thuận lợi để động viên họ phát huy quyền làm chủ của mình. Do vậy, việc củng cố, kiện toàn các đoàn thể trong các cơ quan, đơn vị là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở.

2. Thực trạng tình hình thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập của nước ta hiện nay

Nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện các chủ trương, chính sách nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở (dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn và dân chủ ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập), năm 2017, Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ đã thực hiện điều tra Dự án: “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở”. Với quy mô điều tra gần 1.500 CB, CC, VC ở các cơ quan, đơn vị một số Bộ, ngành và địa phương về tình hình thực hiện dân chủ trong các cơ quan, đơn vị theo phương pháp lựa chọn mẫu, báo cáo tổng hợp kết quả cho thấy (đơn vị tính: tỷ lệ %):

2.1. Về mức độ hiểu biết đối với các nội dung liên quan đến Quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị

Biết rất rõ

Biết sơ qua

Không biết

76.0

23.1

0.9

          * Hình thức tiếp cận thông tin:

Tự tìm hiểu

Từ cơ quan, đơn vị

Qua thông tin đại chúng

Khác

10.4

79.6

8.4

1.6

2.2. Việc tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hàng năm

Tổ chức đều đặn hàng năm

Có năm không tổ chức

Chưa bao giờ tổ chức

93.3

5.9

0.8

          2.3. Về không khí thảo luận tại cuộc hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hàng năm ở cơ quan/ đơn vị

          2.4. Ý kiến nhận xét của CB, CC, VC về tình hình thực hiện việc công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị (Theo quy định, thời hạn công khai văn bản chậm nhất là 03 ngày làm việc, trường hợp đặc biệt không quá 05 ngày kể từ ngày văn bản được ban hành hoặc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan, đơn vị cấp trên).

Không công khai

Có được công khai

Khó trả lời

Kịp thời

Không kịp thời

4.1. Về chủ trương, chính sách liên quan đến công việc của cơ quan, đơn vị

1.6

93.4

3.2

1.8

4.2. Kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý của cơ quan, đơn vị

1.4

95.0

2.6

1.0

4.3. Tài sản, trang thiết bị; kinh phí hoạt động và quyết toán hàng năm

2.6

82.6

8.4

6.4

4.4. Các chế độ, chính sách đối với CB, CC, VC

1.5

90.7

5.7

2.2

4.5. Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai theo quy định

4.4

84.8

5.7

5.1

4.6. Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan đã được kết luận (nếu có)

3.7

59.5

3.7

33.1

4.7. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị (nếu có)

3.2

65.5

3.8

27.5

4.8. Kết quả tiếp thu ý kiến (khi lấy ý kiến) của CB, CC, VC về những vấn đề thuộc thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

3.1

82.2

5.3

9.4

2.5. Nguyên nhân của tình trạng một số thông tin chưa hoặc chậm công khai là do:

          * Nguyên nhân khác: Do ý chí cá nhân người đứng đầu và sự chậm trễ trong công việc của cơ quan, đơn vị.

2.6. Hình thức thường được thực hiện để công khai thông tin cho CB,CC,VC biết

2.7. Việc thực hiện dân chủ trong giải quyết các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của CB, CC, VC ở cơ quan, đơn vị

Chế độ, chính sách

Không công khai

Có công khai

Khó trả lời

Kịp thời

Không kịp thời

7.1. Về tuyển dụng

3.7

84.6

4.7

7.0

7.2. Về đào tạo, bồi dưỡng

1.3

89.8

6.0

2.9

7.3. Điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái

2.3

85.1

5.6

7.0

7.4. Thay đổi vị trí làm việc hoặc chức danh nghề nghiệp

1.9

84.2

6.0

7.9

7.5. Đi công tác nước ngoài

2.7

73.1

4.4

19.8

7.6. Về nâng bậc lương, nâng ngạch

1.3

92.9

3.7

2.1

7.7. Về đánh giá, xếp loại và khen thưởng CB, CC, VC

1.1

93.0

3.7

2.2

          2.8. Những cuộc họp/hội nghị liên quan đến nội dung CB, CC, VC cảm thấy hứng thú (quan tâm) nhất


   

2.9. Việc CB, CC, VC đã/chưa từng gặp gỡ riêng người đứng đầu cơ quan/ đơn vị mình để phản ánh hay phê bình công việc có liên quan

Chưa  

58.2

41.8

Kết quả điều tra 1.340 CB, CC, VC cho thấy có 780 người (chiếm tỷ lệ 58,2%) đã từng gặp gỡ riêng người đứng đầu cơ quan/ đơn vị mình để phản ánh hay phê bình công việc có liên quan. Đặc biệt là có sự khác biệt rất lớn giữa các đối tượng trả lời phiếu trong việc gặp gỡ riêng với người đứng đầu cơ quan/ đơn vị. Số liệu cụ thể tại biểu đồ sau:

 

* Việc bố trí lịch hẹn có dễ dàng, thuận lợi hay không

Rất dễ dàng, thuận lợi

Có một chút khó khăn

Rất khó khăn

90.4

9.0

0.6

* Ý kiến phản ánh hay phê bình của CB, CC, VC có được người đứng đầu cơ quan/ đơn vị quan tâm, lắng nghe hay không

Không  

98.2

1.8

* Người đứng đầu cơ quan/ đơn vị sau đó có phản hồi/giải thích cho CB, CC, VC được biết hay không

Không

97.3

2.7


2.10. Đánh giá về mức độ dân chủ trong việc tham gia ý kiến của CB,CC,VC

         * Về ý thức, trách nhiệm của CB,CC,VC trong việc tham gia ý kiến

 

* Về sự tiếp thu ý kiến của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

 

2.11. Những nội dung ở cơ quan/ đơn vị CB, CC, VC cần phải được thực hiện dân chủ hơn

 

2.12. Phản ứng của CB, CC, VC khi không hài lòng về tình hình thiếu dân chủ ở cơ quan/ đơn vị

 

          2.13. Đánh giá chung về tình hình thực hiện dân chủ ở cơ quan/đơn vị CB, CC, VC công tác

 

2.14. Nguyên nhân chính của tình trạng chưa dân chủ trong các cơ quan/ đơn vị hiện nay là do:

Tỷ lệ %

14.1. Sự ràng buộc từ các mối quan hệ

52.2

14.2. Lợi ích nhóm

32.6

14.3. Quy định về dân chủ chưa rõ, không phù hợp

32.8

14.4. Quy chế dân chủ còn thiếu các chế tài cần thiết đảm bảo thực hiện

52.7

14.5. Sự thiếu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

29.0

14.6. Sự thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức

38.8

14.7. Sự phối hợp chưa tốt giữa các tổ chức trong cơ quan

47.0

14.8. Thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của tổ chức Đảng về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị

17.8

14.9. Điều kiện vật chất, trang thiết bị còn hạn chế

28.4

14.10. Chưa phát huy hết vai trò của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan

33.2

14.11. Chưa phát huy hết vai trò của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan

32.7

14.12. Việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa được coi trọng

32.8

      * Lý do khác: Sự phối hợp chưa tốt giữa các thành viên trong cơ quan; Nhân viên không dám phê bình cấp trên; Chưa nắm bắt kịp thời văn bản quy định.

III. Kết luận

Có thể nói rằng, việc thực hiện dân chủ trong các cơ quan, đơn vị ở Việt Nam hiện nay là tương đối tốt (thể hiện trong biểu đồ số liệu điều tra tại mục 2.13). Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như việc thực hiện dân chủ vẫn còn hình thức, thậm chí ở một số cơ quan, đơn vị sự nghiệp vẫn còn tồn tại tình trạng chưa dân chủ trong một số hoạt động. Nguyên nhân của nó cũng đã được thể hiện qua đánh giá của CB,CC,VC tại bảng số liệu mục 2.14.

Cũng trong khuôn khổ Dự án điều tra năm 2017, Viện Khoa học tổ chức nhà nước đã trưng cầu ý kiến của gần 1.500 CB,CC,VC về giải pháp cần phải tập trung nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Số liệu cụ thể như sau:

Giải pháp

Tỷ lệ %

15.1.Sửa đổi văn bản pháp luật

24.9

15.2. Quy định cụ thể hơn trong việc phối hợp giữa các tổ chức trong cơ quan, đơn vị

65.6

15.3. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

59.8

15.4. Đề cao tinh thần và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức

61.4

15.5. Đề cao vai trò của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan

36.9

15.6. Đề cao vai trò của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan

28.1

15.7. Đề cao tinh thần gương mẫu của đảng viên

24.6

15.8. Đổi mới nhận thức của người đứng đầu CQ, đơn vị và CB, CC, VC

34.3

15.9. Tăng cường điều kiện vật chất, trang thiết bị

24.1

15.10. Kiểm tra và xử lý kịp thời những biểu hiện thiếu dân chủ

50.4

 

Mặc dù số liệu và kết quả điều tra về dân chủ trong cơ quan, đơn vị như đã trình bày ở trên là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, điều này vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, làm sâu sắc hơn trong thời gian tới bởi dân chủ nói chung và thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng là một vấn đề phức tạp và luôn nảy sinh những vấn đề mới trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Trong phạm vi bài viết của mình, sau đây là một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị:

Một là, hoàn thiện các quy định về dân chủ.

- Chính phủ đã ban hành NĐ số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, nên có văn bản quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở riêng cho cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp vì mỗi loại hình có những đặc điểm riêng trong tổ chức, hoạt động cũng như nội dung thực hiện dân chủ.

- Các văn bản quy định về dân chủ cơ sở cần được bổ sung thêm các chế tài về việc thực hiện quy chế đối với người đứng đầu đơn vị cũng như cán bộ, công chức, viên chức khi không thực hiện đúng các nội dung mà dân chủ quy định nhằm đảm bảo cho quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm minh, đúng quy định. 

Hai là, chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về vai trò, tầm quan trọng cũng như các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở

Ba là, nâng cao chất lượng Hội nghị CB,CC,VC

- Do tổ chức Công đoàn có trách nhiệm phối hợp với người đứng đầu cơ quan, đơn vị tổ chức Hội nghị CB,CC,VC nên các cán bộ công đoàn cần được tập huấn đầy đủ về kỹ năng, kinh nghiệm và các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện dân chủ cơ sở. Các tổ chức công đoàn cơ sở phải nắm chắc về quy trình hội nghị để có thể tham mưu, phối hợp cho lãnh đạo cơ quan, đơn vị tổ chức tốt Hội nghị. 

- Người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần chủ động trong việc chuẩn bị nội dung, bố trí đủ thời gian và phối hợp với Chủ tịch công đoàn chỉ đạo Hội nghị  CB,CC,VC theo quy định. Bên cạnh việc lắng nghe ý kiến đóng góp, phê bình của CB,CC,VC; giải đáp những thắc mắc, kiến nghị của CB,CC,VC... thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị cũng cần phải tạo được bầu không khí thực sự thoải mái để mọi CB,CC,VC và người lao động có cơ hội bày bỏ tâm tư, nguyện vọng của mình.

- Tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết hội nghị CB,CC,VC; phải có đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết hội nghị CB,CC,VC trước hội nghị CB,CC,VC vào 6 tháng và cuối năm.

Bốn là, khắc phục tính hình thức trong hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị. 

Thực tế cho thấy trong thời gian qua, tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân chưa thực sự phát huy hết được chức năng, nhiệm vụ theo quy định và những kết quả đạt được vẫn còn rất hạn chế. Điều này xuất phát từ nguyên nhân  chủ yếu do Ban Thanh tra nhân dân đều là cấp dưới của thủ trưởng, chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các quyết định của thủ trưởng (quyền lợi trong công việc hàng ngày; kinh phí hoạt động của Ban Thanh tra...). Như vậy việc tổ chức Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị chưa đảm bảo rõ tính độc lập, khó có thể thực hiện được đúng bản chất của hoạt động giám sát và trên thực tế hiệu lực của hoạt động giám sát của Ban thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị quá yếu so với các chủ thể thực hiện quyền giám sát khác.

Tuy nhiên, trong thời gian tới khi vẫn duy trì Ban Thanh tra nhân dân như một thiết chế đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan và đơn vị sự nghiệp, trước hết cần lựa chọn, bố trí những người có phẩm chất, năng lực tốt, được CB,CC,VC tín nhiệm làm công tác thanh tra nhân dân. Các thành viên tham gia Ban thanh tra nhân dân phải có bản lĩnh, không ngại va chạm, ý thức đầy đủ về vị trí, vai trò và phải nắm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của mình được pháp luật quy định; có nghiệp vụ hoạt động, được tập huấn cơ bản. Muốn vậy, hàng năm có kế hoạch và tổ chức các cuộc tập huấn cho cán bộ làm công tác thanh tra nhân dân về chức năng, nhiệm vụ của Ban thanh tra nhân dân, kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức thực hiện quyền thanh tra, giám sát, xác minh vụ việc theo quy định pháp luật… nhằm nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng, năng lực, trình độ và hiểu biết pháp luật cho người làm công tác thanh tra nhân dân. Đồng thời, cơ quan, đơn vị cần tạo điều kiện thuận lợi và bố trí nguồn kinh phí hợp lý để Ban thanh tra nhân dân hoạt động. Ban Thanh tra nhân dân phải thực hiện đúng nhiệm vụ là giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, đơn vị.

Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức Đảng cơ sở, các tổ chức đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị.

Tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và phải là những tấm gương về thực hiện dân chủ. Mỗi tổ chức đảng phải giáo dục cho đảng viên ý thức rõ trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mình, biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến phê bình. Nếu trong Đảng thực hành được dân chủ, đoàn kết và đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì tình hình sẽ chuyển biến tốt đẹp,  các CB,CC,VC được bảo đảm lợi ích, nhu cầu và quyền làm chủ của mình. Dân chủ trong Đảng sẽ thúc đẩy dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ đảng viên và đội ngũ công chức, viên chức phải gương mẫu trong đạo đức, lối sống, đề cao kỷ luật và trách nhiệm, tôn trọng và tận tụy phục vụ nhân dân. Nghiên cứu xem xét đưa kết quả xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị là một tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh; đảng viên là CB,CC,VC hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Các tổ chức công đoàn, các đoàn thể cần đề xuất, tham mưu cho cấp ủy, lãnh đạo cơ quan tăng cường kiểm tra, theo dõi, đánh giá, uốn nắn việc triển khai thực hiện tại các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý để đảm bảo thực hiện đúng pháp luật, đồng thời báo cáo, đề xuất lên cấp trên có thẩm quyền để xử lý đối với những trường hợp vi phạm về dân chủ.

Sáu là, tăng cường dân chủ phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính và đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Thực hiện dân chủ nhưng luôn phải gắn với bảo đảm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cấp trên. Mỗi cá nhân phải thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Mỗi cơ quan, đơn vị phải xây dựng được chương trình, kế hoạch công tác cụ thể trên cơ sở nhiệm vụ được giao; đánh giá đúng chất lượng, trình độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ của CB,CC,VC. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, gây nhũng nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp, xử lý nghiêm việc chậm trễ trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Bảy là, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Trước hết, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần phải nhận thức rõ việc thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị là một thiết chế hỗ trợ rất hiệu quả cho công tác quản lý, điều hành công việc. Không nên nhìn nhận việc thực hiên dân chủ như là một đối trọng về lợi ích trong quản lý điều hành, hoạt động của cơ quan, đơn vị. Thực hiện dân chủ cơ sở tốt sẽ là công cụ giám sát có hiệu quả chính bản thân cơ quan, đơn vị, đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, cảnh báo sớm những sai phạm có thể xảy đến với các quyết định của người đứng đầu hoặc trong quá trình tổ chức triển khai công tác của cơ quan, đơn vị. Chính vì vậy, người đứng đầu cần nhận thức đúng vai trò và tầm quan trọng của thực hiện dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để CB,CC,VC và các tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ như Công đoàn, Ban Thanh tra nhân dân hoàn thành nhiệm vụ, hoặc tạo điều kiện về thời gian, vật chất để các tổ chức này hoạt động được hiệu quả.

Đồng thời, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải đảm bảo đúng trách nhiệm của mình trong thực hiện dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị; trong quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính sách đối với CB,CC,VC. Khi CB,CC,VC đăng ký được gặp và có nội dung, lý do cụ thể thì bố trí thời gian thích hợp để gặp và trao đổi; Chỉ đạo việc cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, tài liệu, cách thức tổ chức thực hiện, trách nhiệm thực hiện và trách nhiệm giải trình những nội dung công việc trong cơ quan, đơn vị…

Tám là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị.

Xử lý nghiêm, kịp thời những hành vi vi phạm những quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở; điều chuyển, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều dư luận, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Nghiêm cấm và xử lý nghiêm người đứng đầu có hành vi cản trở việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc có hành vi trả thù, trù dập CB,CC,VC khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật. Đồng thời, kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của CB,CC,VC và quyền làm chủ của nhân dân, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị./.

Tài liệu tham khảo:

1. Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ (2017), Báo cáo tổng hợp Dự án điều tra cấp Bộ “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”.

2. Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 9/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Thông tư số 01/2016/TT-BNV ngày 13/ 01/2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP.

ThS. Trần Thị Thơ, Phó Trưởng phòng

        Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ






















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn