TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở CƠ QUAN, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

1. Khái quát về thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập

Theo ý nghĩa ban đầu, khái niệm dân chủ trước hết và chủ yếu được xem xét về mặt chính trị và pháp luật, về sau, khái niệm này mang ý nghĩa rộng hơn, vì dân chủ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị hay pháp luật, mà nó còn thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hóa, tư tưởng, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với Nhà nước, giữa các tổ chức, thiết chế xã hội với nhau cho đến quan hệ giữa các nhà nước với nhau trên trường quốc tế. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, “dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực[1] của cách mạng Việt Nam.



[1] Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam- NXB CTQG- HN, 1992

Xét theo nghĩa rộng, cơ sở là các tập thể lao động, các cơ quan, công sở nhà nước, các đơn vị sự nghiệp như nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu, các cơ sở sản xuất - kinh doanh - dịch vụ (công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã...). Theo nghĩa hẹp và trực tiếp, cơ sở là một cấp của quản lý hành chính nhà nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng nêu rõ: dân chủ cơ sở thực chất là vấn đề “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra[1]. Quan điểm chỉ đạo này đã được cụ thể hóa và đưa vào nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước và văn bản của các tổ chức chính trị xã hội. Quy định về dân chủ cơ sở trong Hiến pháp và Pháp luật là nhằm đảm bảo cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trực tiếp ở cơ sở nơi cư trú và cơ quan, đơn vị công tác. Khi mọi người dân đều được tham gia vào các quá trình chính trị, xã hội trên tất cả các khâu, từ hoạch định đường lối đến triển khai, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và tổng kết… thì các vấn đề nảy sinh được phát hiện kịp thời, các khó khăn sớm được tháo gỡ, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, của địa phương, của cơ quan, đơn vị.

Để thực hiện dân chủ cơ sở, mọi công dân phải được đảm bảo thực hiện các quyền:

- Quyền được bàn bạc, tham gia đóng góp ý kiến.

- Quyền được biết, được thông tin.

- Quyền kiểm tra, giám sát ở cơ sở.

Dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, trước hết, vẫn phải là sự đảm bảo nguyên tắc “toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, song đặt trong phạm vi nội bộ cơ quan, đơn vị cũng như trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Chính đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là chủ thể của quyền lực nhà nước, có các quyền dân chủ và trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của mình. Dân chủ ở cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn liền với những nội dung cụ thể có liên quan đến hoạt động của cơ quan, đơn vị và thể hiện trực tiếp ở các quyền dân chủ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đó là quyền được biết những việc có liên quan đến hoạt động của cơ quan, đơn vị, quyền tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định và quyền giám sát, kiểm tra. Về thực chất, nội dung của dân chủ ở cơ quan, đơn vị là sự cụ thể hóa khía cạnh “nhân dân làm chủ” theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

 Việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị là điều kiện hết sức quan trọng để cán bộ, công chức, viên chức phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào các hoạt động của cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, “thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị phải gắn liền với việc bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức Đảng ở cơ quan, đơn vị; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và của các tổ chức đoàn thể quần chúng của cơ quan, đơn vị.

2. Một số nội dung về thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập

Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị như:  Nghị quyết số 55/NQ-UBTVQH10 UBTVQH khóa X về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định số 07/1999/NĐ-CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước; Chỉ thị số 38/1998/CT-TTg về triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan;  Thông tư liên tịch 09/1998/TTLT-TCCP-LĐLĐ hướng dẫn về tổ chức và nội dung hội nghị cán bộ trong cơ quan; Quyết định số 11/1998/QĐ-TCCP-CCVC kèm theo Quy chế đánh giá công chức hàng năm. Đặc biệt, ngày 09/1/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ) thay thế Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan. Trên cơ sở Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BNV ngày 13/ 01/2016 nhằm cụ thể hóa một số nội dung về Tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; chế độ báo cáo định kỳ.

Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác của Nhà nước có các quy định liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ sở như: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2013), Luật Giao dịch điện tử; Luật Khiếu nại; Luật tố cáo; Luật Phòng chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức…

Về mặt hình thức, thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập là toàn bộ cách thức, quy trình, thủ tục triển khai thực hiện trên thực tế các quyền dân chủ của cán bộ, công chức, viên chức được biết, được tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định và được giám sát, kiểm tra đối với những việc có liên quan theo quy định của pháp luật; biến các quyền dân chủ đó trở thành hiện thực trong hoạt động của cơ quan, đơn vị. Quá trình triển khai thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập phải bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức thực hiện các nội dung tương ứng với các hình thức sau đây:

2.1. Quyền được biết

Quyền được biết của cán bộ, công chức, viên chức được pháp luật khái quát “được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao” và sau đó được cụ thể hóa thành 9 nhóm việc mà người đứng đầu cơ quan phải thông báo công khai để cán bộ, công chức biết. Mặc dù còn chưa cụ thể, nhưng đó là danh mục tương đối toàn diện về những việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mà cán bộ, công chức, viên chức được biết qua thông báo công khai của người đứng đầu.

Để thực hiện quyền được biết thì cơ quan, đơn vị phải cung cấp thông tin cho cán bộ, công chức, viên chức kịp thời, chân thực và công khai. Có công khai thì mới có dân chủ, vì công khai là điều kiện để thực hiện quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức. Yếu tố công khai đòi hỏi cơ quan, đơn vị phải thông báo cho cán bộ, công chức, viên chức một cách cụ thể về các mục tiêu, kế hoạch hành động, các chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng, phát triển của cơ quan, đơn vị, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức đối với cơ quan, đơn vị...

Cùng với các quy định về những người đứng đầu cơ quan phải thông báo công khai để cán bộ, công chức biết, pháp luật đã quy định rất rõ hình thức và thời gian công khai những việc đó. Theo đó, các cơ quan nhà nước có thể áp dụng theo quy định một, một số hoặc tất cả các hình thức công khai: Niêm yết tại cơ quan; thông báo tại hội nghị cán bộ, công chức cơ quan; Thông báo bằng văn bản gửi toàn thể cán bộ, công chức; Thông báo cho người phụ trách các bộ phận của cơ quan và yêu cầu họ thông báo đến cán bộ, công chức làm việc trong các bộ phận đó; Thông báo bằng văn bản đến cấp ủy trực tiếp, Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan; Đăng trên trang thông tin nội bộ của cơ quan. Việc công khai được thực hiện chậm nhất là 3 ngày làm việc, trường hợp đặc biệt là không quá 5 ngày kể từ ngày văn bản được ban hành hoặc kể từ ngày nhận được. Đối với hình thức niêm yết tại cơ quan, thì thời gian niêm yết ít nhất là 30 ngày liên tục. Có thể nói, các quy định đó đã tạo cơ sở pháp lý góp phần bảo đảm cán bộ, công chức được biết những việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị và người dân thông qua các hình thức thông báo công khai của cơ quan.

2.2. Quyền được bàn (tham gia ý kiến)

Hiện nay, chế độ làm việc trong các cơ quan nhà nước ở nước ta gồm 3 loại: chế độ tập thể (như Chính phủ); chế độ tập thể kết hợp với trách nhiệm của người đứng đầu (như Uỷ ban nhân dân); chế độ thủ trưởng (như bộ, cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập). Ngoài các quyền được bàn như công dân bình thường, thì trong hoạt động của cơ quan, đơn vị, quyền được bàn của cán bộ, công chức, viên chức tùy thuộc vào chế độ làm việc của từng cơ quan, đơn vị.

Quyền được tham gia ý kiến là đòi hỏi tất yếu khi cán bộ, công chức, viên chức đã được cung cấp thông tin một cách công khai. Việc cán bộ, công chức, viên chức trao đổi, bàn bạc, thảo luận về những thông tin mà họ tiếp nhận được là một khâu rất quan trọng để thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị nhằm nâng cao tỷ trọng các ý kiến hợp lý, giúp người đứng đầu cơ quan, đơn vị đưa ra quyết định đúng đắn. Không có sự trao đổi, bàn bạc, thảo luận, thậm chí cọ xát, va đập các ý kiến với nhau thì không thể có quan điểm chung được mọi người chia sẻ, tán thành và ủng hộ. Quá trình cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, bàn luận các thông tin được cung cấp cho phép lưu lại và nhấn mạnh được những yếu tố cơ bản, quan trọng; lược bớt những yếu tố không quan trọng, không cần thiết, tạo nên ý kiến, quan điểm chung, sự đồng thuận trong cơ quan, đơn vị. Sự đồng thuận lại là nền tảng cho hoạt động của cơ quan, đơn vị đạt được chất lượng, hiệu quả cao. Quyền của cán bộ, công chức, viên chức được tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định được quy định tại Điều 9 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP. Các nội dung này không nhằm mục tiêu nào khác ngoài bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức nên cần được thực hiện một cách dân chủ bằng cách lấy ý kiến của cán bộ, công chức, viên chức.

Trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ, cán bộ, công chức, viên chức sẽ được tham gia ý kiến (bàn bạc, kiến nghị) và người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định đối với 8 nhóm việc với các hình thức áp dụng khác nhau như: tham gia ý kiến trực tiếp, tham gia ý kiến thông qua người đại diện với người đứng đầu cơ quan, đơn vị;  Thông qua hội nghị cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị… Nói chung, về mặt pháp lý các quy định đã tạo cơ sở bảo đảm thực hiện tương đối tốt quyền được bàn của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động của hệ thống chính trị và người dân, mặc dù pháp luật chưa quy định trình tự, thủ tục bàn bạc, góp ý.

2.3. Quyền được kiến nghị, phản ánh

Ngoài việc tham gia góp ý đối với 8 nhóm việc quy định tại Điều 9 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ, đối với các vấn đề khác pháp luật cũng quy định cán bộ, công chức, viên chức có quyền được phản ánh, kiến nghị với người đứng đầu một cách trực tiếp, hoặc thông qua hội nghị cán bộ, công chức, viên chức. Pháp luật cũng quy định người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lắng nghe ý kiến và giải pháp những thắc mắc, kiến nghị của cán bộ, công chức, viên chức.

2.4. Quyền được làm việc

Hiện nay, các quy định đã tạo cơ sở pháp lý góp phần bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Vị trí làm việc của công chức, viên chức được xác định từ khi tuyển dụng, sau khi hết thời gian tập sự thì được bổ nhiệm vào ngạch/chức danh phù hợp, nếu bảo đảm đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ thì công chức, viên chức có thể được chuyển sang ngạch mới. Trong quá trình bố trí công việc, người đứng đầu cơ quan phải sử dụng công chức, viên chức theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Những quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí… bảo đảm tương đối tốt quyền được làm việc của cán bộ, công chức, viên chức.

2.5. Quyền được giám sát, kiểm tra

Trong nội bộ cơ quan, đơn vị, quyền giám sát, kiểm tra thường gắn liền với việc cán bộ, công chức, viên chức theo dõi xem hoạt động của cơ quan, đơn vị có phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và sự phân công, phân cấp trong nội bộ cơ quan, đơn vị; quan sát, nhận xét, đánh giá việc thực hiện trên thực tế chức năng, nhiệm vụ được giao; kiểm tra kết quả, đánh giá hiệu quả thực tế của các hoạt động theo kế hoạch đặt ra; việc bảo đảm sự tuân thủ, chấp hành pháp luật, kỷ luật trong hoạt động của cơ quan, đơn vị...

Pháp luật đã quy định một cách bao quát 5 nhóm việc cán bộ, công chức, viên chức được giám sát, kiểm tra, góp phần bảo đảm thực hiện quyền làm chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị như: thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị; Sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế độ quản lý và sử dụng tài sản của cơ quan, đơn vị. Thực hiện các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền và lợi ích của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị… Đồng thời pháp luật cũng đã quy định, các hình thức giám sát, kiểm tra, đó là: qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; qua công tác kiểm điểm, phê bình và tự phê bình trong các cuộc họp; qua hội nghị cán bộ, công chức, viên chức. Đây đều là những phương thức, cơ chế, diễn đàn để cán bộ, công chức, viên chức thực hiện có hiệu quả quyền giám sát, kiểm tra của mình đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, xử lý nghiêm minh các hành vi sai phạm, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế trong hoạt động của cơ quan, đơn vị.

2.6. Quyền được thụ hưởng

Ngoài việc được thụ hưởng như công dân bình thường, pháp luật đã quy định trong hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức có các quyền lợi riêng, như: được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, phù hợp với điều kiện đất nước; nếu làm việc ở những vùng đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề độc hại, nguy hiểm sẽ được hưởng phụ cấp, ưu đãi riêng; được hưởng tiền làm thêm giờ, làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định; được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng….

2.7. Quyền khiếu nại

Bên cạnh quyền được kiến nghị, phản ánh, cán bộ, công chức, viên chức còn có quyền được khiếu nại theo Luật khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của hệ thống chính trị và người dân, của người có thẩm quyền trong cơ quan, đơn vị nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đây là quy định quan trọng bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền khác nhau của cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện đúng pháp luật.

Cùng với các quy định về quyền làm chủ của cán bộ, công chức,viên chức, pháp luật đã  quy định tương đối bao quát trách nhiệm của họ nhằm bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị một cách có trật tự, kỷ cương, như: nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; thực hành tiết kiệm chống lãng phí, đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời; thực hiện các quy định về nghĩa vụ, đạo đức, văn hóa giao tiếp, quy tắc ứng xử; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người phụ trách trực tiếp, người đứng đầu cơ quan về thi hành nhiệm vụ của mình; nếu có ý kiến khác với người phụ trách trực tiếp thì vẫn phải chấp hành sự chỉ đạo, hướng dẫn của người đó.

 Pháp luật có quy định riêng về trách nhiệm của công chức là người đứng đầu cơ quan, đơn vị nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị như: Thực hiện dân chủ trong điều hành hoạt động; quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; lắng nghe ý kiến phản ánh, phê bình của cán bộ, công chức, viên chức; khi cán bộ, công chức, viên chức đăng ký được gặp có nội dung, lý do thì bố trí thời gian để gặp, trao đổi; thông báo công khai những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết; xem xét, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cán bộ, công chức, viên chức và kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân…

3. Một số hạn chế trong quy định về thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập

Thứ nhất, pháp luật chưa quy định rõ đầy đủ quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động của của cơ quan, đơn vị, đối với một số quyền còn quy định chung chung.

Đối với những việc mang tính xã hội diễn ra trong cơ quan, đơn vị như hoạt động từ thiện, xây dựng quỹ phúc lợi... pháp luật cũng chưa quy định cán bộ, công chức, viên chức được quyết định. Đó là một hạn chế. Bởi vì, trong thực tiễn người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đã gần như cho phép cán bộ, công chức, viên chức quyết định theo nguyên tắc đa số đối với nhiều vấn đề, chẳng hạn các hoạt động từ thiện, hoạt động bình bầu các danh hiệu dành cho cá nhân... Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng: “mở rộng các hình thức tổ chức tự quản để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức tự bàn bạc và thực hiện những công việc mang tính chất xã hội hóa, có sự hỗ trợ của chính quyền, cơ quan, đơn vị”.

Theo Luật Tố cáo, thì cán bộ, công chức, viên chức chỉ được thực hiện quyền tố cáo với tư cách là công dân bình thường, chứ không phải với tư cách cán bộ, công chức, viên chức. Theo Khoản 2, Điều 9 Luật Cán bộ, công chức, khi phát hiện vi phạm pháp luật trong cơ quan, thì cán bộ, công chức phải báo cáo người có thẩm quyền, chứ không phải tố cáo. Điều này cho thấy dường như cán bộ, công chức không có quyền tố cáo với tư cách là cán bộ, công chức và điều đó mâu thuẫn với Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ, tại Khoản 5 của Điều 11 quy định những việc cán bộ, công chức giám sát, kiểm tra có đề cập đến “giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị”.

Ngoài ra, quyền được biết của cán bộ, công chức, viên chức còn có khoảng cách với quyền tiếp cận thông tin mà Hiến pháp đã quy định, điều đó làm hạn chế quyền giám sát, kiểm tra của họ đối với hoạt động của cơ quan nhà nước...

Một số quyền đang được quy định chung chung, chẳng hạn quy định về những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết và những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến còn rất trừu tượng: chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan; chủ trương, giải pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước... Vấn đề bảo đảm công bằng trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức cũng chưa được nhấn mạnh, làm rõ.

Thứ hai, quy định về trình tự thủ tục và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức còn chưa rõ ràng, thậm chí còn thiếu. Chẳng hạn đối với những cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan quyết định, pháp luật chỉ quy định phạm vi 8 nhóm việc và hình thức tham gia ý kiến, chứ chưa quy định cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến vào thời điểm nào trong quá trình ban hành và tổ chức thực hiện quyết định, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan sẽ như thế nào đối với những góp ý... Quy định như vậy là thiếu rõ ràng, là sự thụt lùi so với quy định trước đây tại các Điều 17, Điều 18 và Điều 19 của Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ: cán bộ, công chức tham gia ý kiến “trước khi thủ trưởng cơ quan quyết định”, khi quyết định những vấn đề cán bộ, công chức tham gia góp ý “khác với ý kiến của đa số cán bộ, công chức biết”.

Thứ ba, quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị đang gây nên những hạn chế trong thực hiện quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức. Theo quy định pháp luật, hiện nay người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động của cơ quan, đơn vị mình; đồng thời quyền hạn của người đứng đầu rất lớn, tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ được giao, quyết định các chủ trương, giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ, đặc biệt có các quyền mang tính quyết định đến lợi ích hành ngày, cũng như sự nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức cấp dưới, như: tuyển dụng, sử dụng đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, nâng lương, cử dự thi nâng ngạch/ thăng hạng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật… Với các quy định này, nếu người đứng đầu chí công, vô tư, toàn tâm, toàn ý với công việc của cơ quan, đơn vị thì sẽ có tác động hết sức tích cực bảo đảm công việc cơ quan, đơn vị được thực hiện một cách thông suốt, hiệu lực, hiệu quả vì lợi ích chung và quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức được đảm bảo. Tuy nhiên, với “bộ phận không nhỏ” như các văn kiện của Đảng nêu rõ, thì việc thực hiện quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức đang gặp những cản trở, nếu không muốn nói là rất hình thức.

Thứ tư, trong mỗi cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, pháp luật chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa người đứng đầu và tập thể cơ quan, đơn vị; giữa người đứng đầu và cấp phó; giữa lãnh đạo và cấp ủy đảng trong cơ quan, đơn vị. Những hạn chế đó thường dẫn đến nhiều tình huống khi sự việc xảy ra; chồng chéo trong giải quyết, đùn đẩy trách nhiệm, không ai chịu giải quyết… dẫn đến chậm trễ trong giải quyết, gây hậu quả xấu cho xã hội, khó xác định trách nhiệm.

4. Phương hướng góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập

Thứ nhất, phát huy vai trò của các tổ chức Đảng cơ sở, các tổ chức đoàn thể quần chúng  trong việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị.

Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ yêu cầu thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị “phải gắn liền với việc bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị”. Điều này hết sức cần thiết để đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ tại cơ quan, đơn vị sẽ đảm bảo công tác dân chủ được thực hiện đúng định hướng, mục tiêu, hạn chế những biểu hiện xa rời dân chủ, lạm quyền, lộng quyền…

Tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và phải là những tấm gương về thực hiện dân chủ. Mỗi tổ chức đảng phải giáo dục cho đảng viên ý thức rõ trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mình, biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến phê bình. Nếu trong Đảng thực hành được dân chủ, đoàn kết và đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư thì tình hình sẽ chuyển biến tốt đẹp, các cán bộ, công chức, viên chức được bảo đảm lợi ích, nhu cầu và quyền làm chủ của mình. Dân chủ trong Đảng sẽ thúc đẩy dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ đảng viên và đội ngũ công chức phải gương mẫu trong đạo đức, lối sống, đề cao kỷ luật và trách nhiệm, tôn trọng và tận tụy phục vụ nhân dân. Nghiên cứu xem xét đưa kết quả xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị là một tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá chi bộ, đảng bộ cơ quan trong sạch, vững mạnh; đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Các tổ chức công đoàn, các đoàn thể cần đề xuất, tham mưu cho cấp ủy, lãnh đạo cơ quan tăng cường kiểm tra, theo dõi, đánh giá, uốn nắn việc triển khai thực hiện tại các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý để đảm bảo thực hiện đúng pháp luật, đồng thời báo cáo, đề xuất lên cấp trên có thẩm quyền để xử lý đối với những trường hợp vi phạm dân chủ cơ sở.

Hai là, hoàn thiện thể chế liên quan đến quyền con người, quyền công dân.

Việc thực thi dân chủ cần phải được tiến hành trong khuôn khổ nhất định, vì vậy, cần hoàn thiện thể chế về quyền con người, quyền công dân để bảo đảm khuôn khổ pháp lý cho việc thực hành dân chủ. Đó là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền khiếu nại, quyền tố cáo; quyền ứng cử, bầu cử của công dân, quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền được tiếp cận thông tin của công dân… đã được quy định trong Hiến pháp. Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, Nhà nước cần phải có cơ chế để bảo đảm các quyền này được thực hiện trên thực tế.

Ba là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phải dựa trên cơ sở khoa học về phân công, phân cấp trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, từ đó bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động thông suốt, không chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan và đùn đẩy trách nhiệm khi có hậu quả xảy ra. Cần quy định rõ địa vị pháp lý, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước; quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong cơ quan hành chính nhà nước và có chế tài phù hợp đối với những vi phạm… Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hoàn thiện đồng bộ, hợp lý chính là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện trên thực tế các quy định về dân chủ tại cơ quan, đơn vị.

Ngoài ra, cần khắc phục tính hình thức trong hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp. Theo đó, nên cân nhắc, xem xét lại vai trò, sự cần thiết thành lập Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp. Thực tế cho thấy trong thời gian qua, tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân chưa thực sự phát huy hết được chức năng, nhiệm vụ theo quy định và những kết quả đạt được vẫn còn rất hạn chế. Điều này do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu do Ban Thanh tra nhân dân phụ thuộc chặt chẽ vào người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp. Toàn bộ thành viên Ban thanh tra nhân dân đều là cấp dưới của thủ trưởng, chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các quyết định của thủ trưởng. Kinh phí hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân cũng phụ thuộc vào người thủ trưởng. Các thành viên Ban Thanh tra nhân dân sẽ có tâm lý e ngại khi giám sát, kiến nghị đối với thủ trưởng. Điều đó sẽ dẫn tới kết quả, chất lượng giám sát của Ban Thanh tra nhân dân khó mang tính khách quan, hiệu quả khi họ bị ràng buộc lợi ích, bị chi phối bởi đối tượng giám sát là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Như vậy việc tổ chức Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp chưa đảm bảo rõ tính độc lập, khó có thể thực hiện được đúng bản chất của hoạt động giám sát và trên thực tế hiệu lực của hoạt động giám sát của Ban thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp còn quá yếu so với các chủ thể thực hiện quyền giám sát khác.

Bốn là, mỗi cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ sở thể chế chung về dân chủ, cần cụ thể hóa thành những quy định phù hợp với đặc thù của cơ quan.

Mỗi cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cần phải xây dựng được các quy định về quy chế phát ngôn, quy chế chi tiêu nội bộ, quy định về thanh tra nhân dân, quy định về quyền tham gia… của người lao động trong cơ quan, đơn vị. Các quy định này phải phù hợp với pháp luật của Nhà nước và được nhất trí thông qua bởi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị.

Năm là, chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ công chức, viên chức, người lao động về vai trò, tầm quan trọng cũng như các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến về thực hiện dân chủ cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nhằm làm cho mọi người hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình, tích cực tham gia giám sát nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của theo quy định của pháp luật. Người công chức, viên chức phải tích cực, chủ động hơn nữa trong việc tham gia kiểm tra, giám sát trong việc đảm bảo thực hiện dân chủ ở cơ sở. Khắc phục tình trạng còn né tránh, ngại phê bình, chưa thẳng thắn, xuôi chiều giữa cán bộ, công chức, viên chức với người đứng đầu; giữa cơ quan cấp trên và cấp dưới…

Trong bối cảnh phát triển đất nước nói chung và công cuộc cải cách hành chính nhà nước nói riêng thì việc phát huy và thực hành dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập là điều kiện quan trọng để huy động được đông đảo nguồn lực sáng tạo trong nhân dân nhằm tạo sự đồng thuận của xã hội để thúc đẩy tiến trình cải cách, phát triển và hội nhập đất nước. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải sớm hoàn thiện và cụ thể hóa Nghị định số 04/2015/NĐ-CP trên cơ sở cải cách mạnh mẽ về mặt thể chế, chính sách; sự ràng buộc và bảo đảm trách nhiệm của người đứng đầu, của chính mỗi cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị cũng như của mọi công dân để dân chủ thực sự trở thành văn hóa điều chỉnh hành vi ứng xử của con người khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội./.

                          ThS. Trần Thị Thơ

Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

---------------------------------------------

* Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

2Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam- NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1992.

3. Luật Công đoàn Việt Nam, 1990.

4. Luật Cán bộ, công chức

5. Luật Viên chức

6. Nghị định số 04/2015/NĐ-CP  và Thông tư số 01/2016/TT-BNV

7. Bài viết của TS. Ngọ Văn Nhân, Đại học Luật Hà Nội về “Vai trò của công đoàn trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập”.



[1] Luật Công đoàn Việt Nam, 1990





















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn