TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức, hoạt động của chính quyền đô thị

Luật Tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương, trong đó đã bước đầu có sự phân biệt về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp phù hợp với đặc điểm của nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thể chế chính quyền địa phương các cấp nói chung, của chính quyền đô thị nói riêng đã, đang là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn cuộc sống, đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng của nước ta hiện nay.     

I. YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP TỤC HOÀN THIỆN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở ĐÔ THỊ

1. Bối cảnh

Sau hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, quá trình đô thị hóa ở nước ta đã và đang diễn ra nhanh chóng dẫn đến có nhiều khác biệt về hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng giữa đô thị và nông thôn. Theo quy định của pháp luật hiện hành, mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta tổ chức thành 3 cấp chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Chính quyền ở địa bàn đô thị cơ bản được tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương tự như chính quyền ở địa bàn nông thôn cùng cấp, tuy có thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý trên địa bàn đô thị. Vì vậy, nhiều vấn đề cấp thiết của đô thị như quy hoạch, kiến trúc, xây dựng hạ tầng đô thị, xử lý ô nhiễm môi trường, chống ùn tắc giao thông, quản lý dân cư và trật tự an toàn xã hội chưa được giải quyết kịp thời, chưa phù hợp với nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Ở đô thị, do kết cấu hạ tầng thống nhất, liên thông đòi hỏi phải quản lý theo ngành là chủ yếu, khác với nông thôn quản lý theo lãnh thổ là chủ yếu. 

2. Phân biệt đô thị và nông thôn từ các đặc trưng quản lý

Theo Luật quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị “là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn’’.

Từ thực tiễn phát triển đô thị ở nước ta, có thể rút ra 06 đặc điểm chủ yếu của đô thị phân biệt với nông thôn như sau: (1) Về vị trí, vai trò: Đô thị là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ của một địa phương, vùng, miền, của cả nước, là động lực cho sự phát triển đối với địa phương, vùng, miền đó hoặc cả nước. (2) Về dân cư: Đô thị là nơi tập trung dân cư, mật độ dân số cao, gồm nhiều thành phần sống đan xen có lối sống khác nhau, tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội đa dạng nên việc quản lý dân cư đô thị có nhiều phức tạp. Dân cư nông thôn gắn kết cộng đồng theo làng, xã, thôn, xóm, bản, ấp, dòng họ có những hương ước và phong tục, tập quán riêng mang nhiều tính tự quản. (3) Về kinh tế - xã hội: Ở khu vực nội thành, nội thị chủ yếu là phi nông nghiệp, đa ngành, đa lĩnh vực, có tốc độ phát triển cao, là địa bàn hoạt động của các loại thị trường, là nơi hội tụ và trao đổi thông tin, nơi dễ nảy sinh các tệ nạn xã hội và các hiện tượng làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ở nông thôn chủ yếu là nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ và thông tin chưa phát triển mạnh. (4) Về cơ sở hạ tầng: Ở khu vực nội thành, nội thị có tính thống nhất, liên thông và phức tạp, tạo thành những mạng lưới, hệ thống đồng bộ, xuyên suốt địa bàn, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, đòi hỏi quản lý tập trung, thống nhất theo ngành là chủ yếu. Ở nông thôn cơ sở hạ tầng còn đơn giản, chưa liên hoàn và chưa đồng bộ, đòi hỏi quản lý theo lãnh thổ là chủ yếu. (5) Về địa giới hành chính: Cơ sở hạ tầng ở đô thị là một chỉnh thể thống nhất nên việc phân chia địa giới hành chính trong khu vực nội thành, nội thị chỉ có ý nghĩa là khu vực hành chính, mang tính chất quản lý hành chính là chủ yếu. Ở nông thôn, việc phân chia địa giới hành chính gắn với các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trong phạm vi địa bàn lãnh thổ đó. (6) Về quản lý: Ở đô thị việc quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã hội, giao thông, điện, nước, nhà ở, xây dựng, môi trường là vấn đề bức xúc hàng ngày và đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực này ở nông thôn.

3. Đặc thù của đô thị ở nước ta hiện nay

Quá trình đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra với quy mô lớn, tốc độ nhanh, các đô thị đã có ngày càng mở rộng và nhiều đô thị mới hình thành đã chi phối trực tiếp đến quản lý nhà nước về đô thị, từ đó đòi hỏi phải có những đặc trưng riêng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền đô thị, đó là:

Quá trình đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra với quy mô lớn, tốc độ nhanh, các đô thị đã có ngày càng mở rộng và nhiều đô thị mới hình thành đã chi phối trực tiếp đến quản lý nhà nước về đô thị, đòi hỏi phải có những đặc trưng riêng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền đô thị, đó là:

- Trong đơn vị hành chính đô thị có đơn vị hành chính nông thôn trực thuộc (huyện, xã, thị trấn); trong đơn vị hành chính nông thôn có đơn vị hành chính đô thị trực thuộc (thị xã, thành phố thuộc tỉnh); nhiều đô thị, phần nông thôn (huyện, xã) chiếm tỷ trọng lớn về diện tích tự nhiên và dân số.

- Phần đang đô thị hóa (phần giáp ranh giữa đô thị và nông thôn) ngày càng lớn so với phần đã đô thị hóa; nhiều đô thị đang có quá trình mở rộng địa giới hành chính, chuyển cả huyện thành thị xã hoặc chuyển các xã lân cận thành phường để đưa vào khu vực nội thành, nội thị.

II. MỘT SỐ HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở ĐÔ THỊ

1. Các hạn chế, bất cập về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động

- Tổ chức bộ máy chính quyền địa phương các cấp nói chung, chính quyền đô thị nói riêng đã qua nhiều lần sắp xếp, tinh giản biên chế nhưng chưa thực sự tinh gọn, chưa tương ứng với nhiệm vụ, thẩm quyền được giao; chưa phân biệt rõ mô hình tổ chức bộ máy của chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn, hải đảo, đặc biệt đối với các đô thị lớn, cực lớn. Đơn cử như bộ máy chính quyền đô thị của hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (đô thị loại đặc biệt) song về cơ bản tổ chức bộ máy không có nhiều điểm khác biệt so với các thành phố trực thuộc trung ương và các tỉnh. Một số quận của hai thành phố này có dân số đông (Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội có dân số lớn hơn tỉnh Bắc Kạn) và thu ngân sách lớn (Quận Long Biên của thành phố Hà Nội thu ngân sách năm 2017 đạt gần 10.000 tỉ đồng, tương đương một tỉnh thu ngân sách trung bình cả nước) nhưng tổ chức bộ máy và số lượng cán bộ, công chức, viên chức về cơ bản vẫn áp dụng mô hình chung như một đơn vị hành chính cấp huyện.

- Cơ chế trách nhiệm, cơ chế phối hợp trong giải quyết công việc còn chưa rõ ràng, rành mạch; còn có sự chồng lấn, không rõ về trách nhiệm trong thực hiện một số nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cấp, giữa các Sở, ngành chuyên môn của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các Phòng, Ban chuyên môn của quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và phường.

- Do những đặc trưng của đô thị, việc thành lập các cơ quan chuyên môn cần bảo đảm tính bao quát, tổng hợp, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Tuy nhiên, với mô hình tổ chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện như hiện nay thì hoạt động các Sở, Phòng, Ban chuyên môn của chính quyền các đô thị khó tránh khỏi quản lý chồng chéo, khó bảo đảm quản lý thống nhất, liên thông về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch về phát triển ngành, quy hoạch không gian đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị (điện, đường giao thông, thoát nước, rác thải, khu đô thị, v..v.).

- Trong thực hiện một số nhiệm vụ như: đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư, các công trình giao thông, các khu đô thị,… liên quan đến nhiều cấp, nhiều cơ quan, đơn vị cần thiết phải thành lập một tổ chức liên ngành để tham mưu cho UBND cùng cấp giải quyết nhằm bảo đảm sự thống nhất trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tuy nhiên tại nhiều đô thị không thiết lập được cơ chế phối hợp này dẫn đến tình trạng không đồng bộ, ách tắc, cản trở lẫn nhau, hiệu lực, hiệu quả quản lý còn thấp.

- Quá trình phát triển các Khu đô thị mới, khu dân cư đô thị với tính tự quản cao về an ninh, trật tự, quản lý nhân khẩu; tính thống nhất, liên thông về cơ sở hạ tầng đô thị điện, nước, giao thông, vệ sinh môi trường…, đòi hỏi cần có cơ chế quản lý phù hợp của chính quyền đô thị.

2. Về mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính trong chính quyền đô thị

- Trong quan hệ giữa UBND cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) với các đô thị trực thuộc (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) thì phương thức quản lý, chỉ đạo, điều hành của UBND cấp tỉnh được áp dụng chung cho tất cả các đơn vị cấp huyện trên địa bàn do vậy đối với các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phát triển theo hướng đô thị hóa nhanh đã phát sinh nhiều điểm bất cập, không còn phù hợp, cụ thể là: trách nhiệm quản lý ngành trên địa bàn thiếu rõ ràng; mối quan hệ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ (địa bàn) của chính quyền quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm với các Sở, ngành cấp tỉnh, làm giảm quyền chủ động sáng tạo của địa phương; trách nhiệm của Sở, ngành cấp tỉnh trong việc xử lý các kiến nghị của đô thị, nhất là các vấn đề có tính chất liên ngành không ít trường hợp thiếu kịp thời; sự phối hợp giữa Sở, ngành trong việc chỉ đạo, điều hành ngành, lĩnh vực có vấn đề còn chưa sát thực tế cũng gây không ít khó khăn cho chính quyền các đô thị trực thuộc.

- Mối quan hệ giữa UBND quận, thị xã, thành phố với UBND phường, xã mang tính chất điều hành và chấp hành thông qua việc ban hành và thực hiện các quyết định hành chính. Do mô hình tổ chức chính quyền đầy đủ ở mỗi cấp (có HĐND và UBND) nên UBND cấp dưới có tính chủ động tương đối trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của cấp mình. Tuy nhiên, có nhiều việc thực hiện không nghiêm kỷ cương trong quản lý điều hành, trong việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quyết định hành chính của cấp trên, việc thực hiện chế tài giữa cấp trên với cấp dưới cũng còn hình thức, thiếu cương quyết, chưa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương của nền hành chính.

3. Về phân cấp quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn đô thị

- Việc phân cấp giữa Trung ương (Chính phủ và các Bộ) với chính quyền thành phố trực thuộc Trung ương (nhất là đối với hai đô thị loại đặc biệt) chưa đủ mạnh, chưa thực sự bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, năng lực và sáng tạo của các đô thị lớn, cực lớn.

- Trong nội bộ chính quyền đô thị thì việc phân cấp giữa chính quyền cấp tỉnh với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; giữa quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh với phường còn khá nhiều bất cập nảy sinh; có nhiệm vụ nếu giao cho cấp dưới giải quyết sẽ hiệu quả hơn nhưng chưa thực hiện; một số nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp song chưa đi kèm với các điều kiện bảo đảm thực hiện (tài chính, nhân lực); có nhiệm vụ phân cấp nhưng vượt khả năng giải quyết của cơ quan, đơn vị được phân cấp. Do đó thẩm quyền của chính quyền đô thị trong một số lĩnh vực như: Quản lý tài chính - ngân sách, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đô thị còn hạn chế, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp nói chung, của chính quyền đô thị nói riêng.

- Việc phân cấp còn chậm và nhiều vướng mắc. Nhiều lĩnh vực cần phân cấp mạnh nhằm phát huy phát huy các tiềm năng, thế mạnh của đô thị để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế- xã hội... thì cấp trên còn ôm đồm, trực tiếp làm thay hoặc có việc phân cấp nhưng thiếu triệt để, còn nửa vời, giao nhiệm vụ nhưng chưa gắn với thẩm quyền quyết định và các điều kiện bảo đảm về tài chính – ngân sách và bộ máy, nhân sự dẫn đến quản lý chồng chéo, trách nhiệm không rõ ràng, khó khăn trong việc thực thi của chính quyền đô thị.

III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Định hướng chung

- Đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của chính quyền đô thị phải hướng tới xây dựng được bộ máy chính quyền đô thị được tổ chức và hoạt động phù hợp với đặc điểm, tính chất của đô thị, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của người dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của đô thị.

- Phát huy được tính năng động, sáng tạo của bộ máy chính quyền đô thị; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền đô thị; huy động cao nhất mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững, thúc đẩy việc hình thành đô thị văn minh, hiện đại, tạo sự công bằng trong hưởng thụ các dịch vụ đô thị.

- Xây dựng bộ máy tinh gọn; phân công, phân cấp, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp chính quyền, giữa tập thể và người đứng đầu; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.

- Tổ chức bộ máy quản lý hành chính chuyên nghiệp, đội ngũ công chức mẫn cán với công vụ, hình thành bộ máy chính quyền đô thị mang tính chất phục vụ cho lợi ích chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn các đô thị.

2. Một số kiến nghị cụ thể

Việc xây dựng, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền đô thị cần bám sát định hướng của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương tại Nghị quyết Đại hội XI; Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XII và Hiến pháp năm 2013. Theo đó, cần tiếp tục nghiên cứu, triển khai thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:

2.1. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế xây dựng chính quyền địa phương, trọng tâm là Luật tổ chức chính quyền địa phương

Để giải quyết các bất cập, vướng mắc trong tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, đặc biệt là đối với chính quyền đô thị; trên cơ sở tổng kết, đánh giá quá trình thi hành Luật tổ chức chính quyền địa phương, đề xuất một số hướng cơ bản sửa đổi, bổ sung Luật này như sau:

a) Về cơ cấu tổ chức:

- Đối với HĐND

 + Giảm số lượng đại biểu HĐND các cấp nói chung, HĐND khu vực đô thị nói riêng, nhất là giảm đại biểu là người công tác trong các cơ quan hành chính. Tăng số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách lên ít nhất 50% trong tổng số đại biểu HĐND.

+ Quy định khung số lượng các cơ quan trực thuộc HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và khung số lượng cấp phó của các cơ quan này.

+ Quy định HĐND thành phố trực thuộc Trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có 01 Phó Chủ tịch HĐND (từ 02 Phó Chủ tịch xuống còn 01 Phó Chủ tịch).

+ Nghiên cứu đề xuất thành lập Ban đô thị của HĐND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

- Đối với UBND:

+ Quy định khung số lượng các cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và khung số lượng cấp phó của các cơ quan này.

+ Tăng số lượng Phó Chủ tịch UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lên tối đa 03 Phó Chủ tịch; số lượng Phó Chủ tịch UBND phường, thị trấn không quá 02 Phó Chủ tịch.

+ Thiết lập mô hình Thường trực UBND gồm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch (Không mở rộng thành viên UBND gồm người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND như Luật hiện hành).

b) Về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền đô thị

- Căn cứ đặc thù của đô thị, đặc điểm quản lý nhà nước trên địa bàn đô thị, đổi mới căn bản chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền đô thị (HĐND và UBND) khác biệt với chính quyền nông thôn, hải đảo.

- Thực hiện phân quyền, phân cấp mạnh mẽ, hợp lý giữa Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương với chính quyền thành phố trực thuộc Trung ương; giữa chính quyền thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh với chính quyền đô thị là quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

- Phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao vị trí, vai trò, trách nhiệm của chính quyền đô thị, đặc biệt đối với người đứng đầu.

2.2. Thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị

Đề xuất thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại 03 thành phố: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng nhằm tinh gọn tổ chức bộ máy, kiêm nhiệm chức danh để thu gọn đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, góp phần làm rõ về lý luận và thực tiễn làm cơ sở đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế chính quyền địa phương. Hiện nay, Thành phố Hà Nội đã được Bộ Chính trị cho chủ trương thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị; riêng Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã được Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thí điểm từ năm 2012. Việc triển khai thực hiện thí điểm là cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức chính quyền địa phương, phân định rõ tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn, hải đảo.

2.3. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND trong chính quyền đô thị

Đổi mới hoạt động của chính quyền địa phương các cấp gắn với tinh gọn, cải cách tổ chức bộ máy là một trong những nội dung quan trọng của cải cách hành chính nhà nước ở địa phương. Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, chủ trương của Chính phủ là thực hiện cải cách theo hướng tinh gọn đầu mối đã bước đầu được thể hiện trong Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong thời gian tới, đồng thời với việc thực hiện quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo tinh thần Kết luận của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI và Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII: ‘‘Hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng quy định khung các cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND cấp tỉnh, cấp huyện; căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung của Chính phủ, địa phương có thể lập (hoặc không lập) cơ quan, tổ chức đặc thù sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền. Rà soát, điều chỉnh, khắc phục những chồng chéo, không rõ về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, giữa UBND cấp huyện với các sở, ngành cấp tỉnh’’; ‘‘Quy định khung số lượng các cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và khung số lượng cấp phó của các cơ quan này. Căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung của Trung ương, cấp ủy địa phương lãnh đạo việc sắp xếp, bố trí cho phù hợp. Rà soát, sắp xếp tổ chức bên trong của các sở, ngành theo hướng tinh gọn đầu mối, kiên quyết cắt giảm số lượng, sắp xếp lại phòng, chi cục, trung tâm, ban quản lý dự án và đơn vị sự nghiệp thuộc sở, ngành’’.

 Theo đó, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP nêu trên theo hướng phân biệt chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn cần được nghiên cứu những nội dung cơ bản sau đây:

- Nghiên cứu điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ của một số sở, cơ quan ngang sở, phòng và tương đương để khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, phù hợp với mô hình chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất, thông suốt của các Bộ, cơ quan ngang Bộ ở Trung ương và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.  

- Nghiên cứu đề xuất Chính phủ quy định khung các cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND cấp tỉnh, cấp huyện; căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung của Chính phủ, địa phương có thể lập (hoặc không lập) cơ quan, tổ chức đặc thù sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền. Đối với cơ quan chuyên môn của UBND khu vực đô thị có thể nghiên cứu tổ chức một số cơ quan theo nhóm ngành phù hợp và ngành dọc xuyên suốt để quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm quản lý thống nhất, liên thông ở đô thị.

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nguyên tắc tổ chức cơ quan chuyên môn; nhiệm vụ, quyền hạn (nghiên cứu đặc thù đối với cơ quan chuyên môn thuộc UBND khu vực đô thị); chế độ làm việc của cơ quan chuyên môn và trách nhiệm của giám đốc sở, trưởng phòng chuyên môn của quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; thẩm quyền của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh, cấp huyện liên quan đến cơ quan chuyên môn thuộc UBND.

2.4. Đổi mới các mối quan hệ công tác trong chính quyền đô thị

- Để công tác quản lý của bộ máy chính quyền đô thị có hiệu lực, hiệu quả, các mối quan hệ chỉ đạo, điều hành, chấp hành, hướng dẫn, phối hợp… phải có sự thay đổi về hình thức, phạm vi, tính chất và đặc biệt phải tăng cường tính hiệu lực của các mối quan hệ trong mô hình chính quyền đô thị. Chính quyền đô thị phải xử lý tốt các mối quan hệ giữa UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; giữa UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh với UBND phường trực thuộc; giữa cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và giữa cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh với công chức chuyên môn phường, xã trên địa bàn.

- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần phân cấp, uỷ quyền mạnh hơn trên một số lĩnh vực để quận, thị xã, thành phố chủ động, năng động trong thực hiện nhiệm vụ, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực trọng yếu như:  lĩnh vực tài chính - ngân sách, trong việc quyết định các kế hoạch, dự án đầu tư phát triển… Mối quan hệ điều tiết giữa UBND quận, thị xã, thành phố và UBND thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh vẫn giữ nguyên tắc: Những vấn đề mang tính chiến lược đối với phát triển của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền của chính quyền cấp tỉnh, còn việc tổ chức triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch đã được chính quyền cấp tỉnh hoặc cấp trên phê duyệt thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền các đô thị trực thuộc. Cần nghiên cứu phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc: Việc gì quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh làm được và có hiệu quả hơn thì giao thẩm quyền toàn bộ cho các đô thị này chịu trách nhiệm thực hiện. Đồng thời, xác định rõ hơn trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, các sở, ngành cấp tỉnh đối với việc giải quyết các vấn đề của quận, thị xã, thành phố  thuộc tỉnh theo hướng rõ ràng, cụ thể, không đùn đẩy trách nhiệm trên tinh thần tôn trọng các ý kiến, kiến nghị của chính quyền đô thị trực thuộc.

- UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cần chủ động rà soát, báo cáo và đề xuất với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các dự án đầu tư phát triển đô thị, các nhu cầu cần hỗ trợ từ chính quyền cấp tỉnh, từ Trung ương và đề xuất mức độ phân cấp cho chính quyền đô thị trên các lĩnh vực để địa phương có thể chủ động, phát huy tính sáng tạo, nguồn lực địa phương và linh hoạt trong quản lý điều hành phục vụ cho mục tiêu phát triển.

- Mối quan hệ giữa UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh với UBND phường, xã trực thuộc: Các chủ trương, chính sách đều xuất phát từ chính quyền quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, còn UBND phường, xã chỉ là chủ thể thực hiện. Trong chính quyền đô thị thực hiện mối quan hệ điều hành và chấp hành, tính quản lý theo lãnh thổ (địa bàn) chỉ còn là tương đối, chủ yếu quản lý theo ngành, lĩnh vực nhằm bảo đảm thống nhất, liên thông trên toàn đô thị.

- Mối quan hệ giữa cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, thị xã, thành phố với cơ quan chuyên môn cấp trên và công chức phường, xã: Đối với một số  cơ quan chuyên môn được tổ chức theo ngành dọc (nếu mô hình này được thực hiện), chịu sự chỉ đạo toàn diện về mặt chuyên môn của cấp Sở, quản lý trực tuyến theo mối quan hệ chỉ đạo, điều hành và chấp hành. Đối với các cơ quan chuyên môn được tổ chức tại quận, thị xã, thành phố theo cơ cấu UBND thì thực hiện mối quan hệ song trùng trực thuộc: Chịu sự chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của cấp Sở về chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả công tác quản lý nhà nước… trên địa bàn phụ trách và chịu sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Mối quan hệ giữa cơ quan chuyên môn thuộc quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh với công chức thực thi nhiệm vụ tại phường, xã cũng thực hiện theo mối quan hệ song trùng trực thuộc.

2.5. Xác lập cơ chế quản lý phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành của bộ máy chính quyền đô thị

- Xây dựng cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền đô thị, đây là một trong những nội dung chính của việc xây dựng chính quyền đô thị hiệu lực, hiệu quả với yêu cầu đề ra là phải phù hợp với các nguyên tắc về khoa học quản lý, nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước theo tinh thần định hướng của Đảng và Hiến pháp năm 2013.

- Chính quyền đô thị cần tập trung chỉ đạo đề xuất các cơ chế, chính sách đột phá hơn để tăng tốc độ phát triển của các đô thị, tăng sự đóng góp của đô thị với tính chất là các hạt nhân phát triển với từng địa phương và cả nước. Chủ tịch UBND thành phố trực thuộc Trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cần tập trung chỉ đạo, điều hành những vấn đề chung, chiến lược, tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện; mở rộng quan hệ đối ngoại, liên kết sự phối hợp trong nội bộ chính quyền đô thị; giảm bớt công tác sự vụ, quá cụ thể như hiện nay.

  - Phân công, phân cấp, uỷ quyền hợp lý, phù hợp với năng lực, điều kiện của từng đô thị, trong đó chú trọng vai trò của các Sở, phòng, ban chuyên môn và công chức chuyên môn của UBND phường, thị trấn để tăng chất lượng tham mưu, đề xuất và chịu trách nhiệm về lĩnh vực công tác được giao, tránh tình trạng chung chung, không chịu trách nhiệm cá nhân, khắc phục tình trạng chồng chéo nhiệm vụ, thẩm quyền, không rõ trách nhiệm trong thực thi công vụ.

2.6. Xã hội hóa các dịch vụ công ở địa bàn đô thị

Cải cách, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nói chung, chính quyền đô thị nói riêng gắn liền với việc đẩy mạnh xã hội hoá dịch vụ công trên cơ sở tách biệt giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng, tổ chức bộ máy sự nghiệp, dịch vụ công, càng tạo điều kiện để tinh giản bộ máy hành chính nhà nước. Mặc khác, chuyển đổi cơ chế tài chính thích hợp đối với các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, nhằm huy động sự đóng góp của xã hội, giảm bớt các nguồn chi sự nghiệp đối với chính quyền đô thị. Trên cơ sở đó, nghiên cứu thực hiện một số công việc sau: (1) Xây dựng chính sách khuyến khích việc thành lập các bệnh viện tư nhân, các phòng khám tư nhân, cải tiến chế độ khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế trên địa bàn; khuyến khích, tạo điều kiện thành lập, hoạt động của các trường dân lập, tư thục, chú trọng vào các trường tiểu học, trung học cơ sở chất lượng cao. (2) Xúc tiến việc chuyển giao các dịch vụ công ích như thu gom và tái chế rác thải, vệ sinh môi trường, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào các công trình công cộng: công viên, khu vui chơi công cộng, các nhà thi đấu, …; đồng thời, nghiên cứu chuyển các đơn vị sự nghiệp có thu sang cơ chế tự chủ về tài chính; (3) Đối với các dịch vụ hành chính công do cơ quan hành chính nhà nước cung ứng cho công dân trên địa bàn đô thị hiện nay cần nghiên cứu và xây dựng các phương án chuyển giao một số dịch vụ cho các tổ chức, doanh nghiệp đảm nhận mà không làm ảnh hưởng hiệu quả quản lý như: các dịch vụ trợ giúp hành chính - pháp lý, công chứng, chứng thực. Theo đó nghiên cứu cơ chế chuyển các bộ phận phục vụ sang hình thức hợp đồng cung cấp dịch vụ thông qua đấu thầu công khai; phân cấp mạnh cho cấp dưới gắn với hoạt động thanh tra, kiểm tra thường xuyên của cấp trên. Đồng thời, tăng cường các giao dịch hành chính công theo hướng trọn gói, người dân và doanh nghiệp không phải liên hệ đến nhiều cơ quan nhà nước để giải quyết.

Trong thời gian tới, tiếp tục tiến trình cải cách hành chính nhà nước ở địa phương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là tại các đô thị sau khi Hiến pháp năm 2013 đã được Quốc hội thông qua, cần xây dựng các thể chế, chính sách phù hợp nhằm đổi mới cơ cấu tổ chức, định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phương thức hoạt động phù hợp đối với chính quyền đô thị theo quy định của Hiến pháp và các định hướng lớn của Đảng, bảo đảm chính quyền đô thị hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; các đô thị phát triển nhanh và bền vững, tạo động lực phát triển các vùng, miền, khu vực trong cả nước và ở mỗi địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và của mỗi địa phương trong giai đoạn mới./.

Th.S. Phan Trung Tuấn

Phó Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương






























Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn