TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Thực trạng nhân lực khoa học công nghệ trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay

1. Quan niệm về nhân lực khoa học và công nghệ

Trong các công trình nghiên cứu khoa học, sách báo, ấn phẩm về khoa học và công nghệ đã công bố, nhân lực khoa học và công nghệ có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. 

Theo nghĩa rộng, nhân lực khoa học và công nghệ bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: (1) đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; (2) đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ nào; (3) chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương[1]. Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện nguồn nhân lực hoạt động khoa học và công nghệ của một quốc gia, và do đó, rất khó cho việc thống kê, phân tích nhân lực khoa học và công nghệ. Để khắc phục khó khăn này, hầu hết các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển, hay còn gọi là R&D (research and development), để thể hiện lực lượng lao động khoa học và công nghệ của mình.

Theo cuốn Cẩm nang FRASCATI - Hướng dẫn thống kê nghiên cứu phát triển của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nhân lực nghiên cứu phát triển bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiên cứu phát triển hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động nghiên cứu phát triển. Nhân lực nghiên cứu phát triển được chia thành 3 nhóm:

Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu khoa học (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu): đây là những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song họ vẫn thường xuyên làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.

Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương: nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của khoa học và công nghệ. Họ tham gia vào nghiên cứu phát triển bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu khoa học nhóm 1 như đã nêu trên.

Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp nghiên cứu phát triển: bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án nghiên cứu phát triển. Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc nghiên cứu phát triển của các tổ chức nghiên cứu phát triển.

Quan hệ giữa nhân lực khoa học và công nghệ và nhân lực nghiên cứu phát triển có thể được thể hiện như sau:

 

 

 

 

 

 

 

  Nhân lực nghiên cứu phát triển

 

 

              Nhân lực khoa học và công nghệ

 

               Nhân lực có trình độ đang làm việc

                                     Tổng số nhân lực

Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đưa ra khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ là: “Tổng số nhân lực có trình độ” và “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác”. Theo UNESCO, nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ không đơn giản là phép tính cộng tổng đầu người, mà bên cạnh việc đếm đầu người cần phải tính đến yếu tố khác như: quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time Equivalent, FTE) và các đặc trưng của họ.

Các quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ nêu trên của OECD và UNESCO được nhiều quốc gia áp dụng. Các nước thuộc khối OECD như Thái Lan, Trung Quốc và Nhật Bản… đều chú trọng vào nhân lực nghiên cứu phát triển theo các tiêu chí cụ thể như: đếm đầu người (headcount), FTE.

Ở Việt Nam, hệ thống số liệu nhân lực khoa học và công nghệ hiện nay mới chỉ là sự phản ánh “tổng số nhân lực có trình độ” của một quốc gia. Theo quan niệm phổ biến thì nhân lực khoa học và công nghệ ở nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây:

(1) Viên chức làm công tác nghiên cứu khoa học (giữ các chức danh khoa học như trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp), làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập (học viện, viện nghiên cứu, trường đại học…);

(2) Viên chức giữ các chức danh công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư chính, kỹ sư cao cấp) làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

(3) Cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (như Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực khoa học và công nghệ, Bộ trưởng và các Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ, Thứ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ phụ trách lĩnh vực khoa học và công nghệ; Vụ trưởng và tương đương ở các bộ, cơ quan ngang bộ phụ trách công tác khoa học và công nghệ; Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện phụ trách lĩnh vực khoa học và công nghệ; công chức làm việc trong Sở Khoa học và công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; công chức lãnh đạo Phòng Kinh tế thuộc UBND cấp huyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ, Liên hiệp hội khoa học và kỹ thuật cấp Trung ương, cấp tỉnh…, kể cả quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ), có tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng về khoa học và công nghệ trong thẩm quyền của mình.

(4) Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tại Việt Nam.

(5) Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống.

Như vậy, nếu hiểu theo quan niệm “nhân lực khoa học công nghệ trong biên chế nhà nước” thì đội ngũ này chỉ bao gồm các nhóm 1, 2 và 3 nêu trên. Trong đó, nhóm 1 và 2 được gọi chung là viên chức khoa học và công nghệ (theo quy định tại Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01/10/2014 của Bộ Nội vụ và Bộ Khoa học và Công nghệ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ); nhóm 3 được gọi chung là công chức lãnh đạo, quản lý khoa học và công nghệ (hoặc nhân lực quản lý khoa học và công nghệ).

2. Thực trạng nhân lực khoa học và công nghệ trong các cơ quan nhà nước.

2.1. Về số lượng và chất lượng.

2.1.1. Cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.

Theo số liệu thống kê năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý về khoa học và công nghệ hiện nay được chia thành 3 nhóm chính với số lượng và phân bổ theo các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước như sau:

(1) Cán bộ, công chức đang làm công tác quản lý nhà nước (kể cả công chức lãnh đạo, quản lý và không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý) tại Bộ Khoa học và Công nghệ có khoảng hơn 700 người;

(2) Công chức (kể cả công chức lãnh đạo, quản lý và không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý) thuộc vụ (hoặc ban) Khoa học và công nghệ tại các bộ/ngành Trung ương có khoảng gần 300 người;

(3) Công chức tại Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (kể cả công chức lãnh đạo, quản lý và không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý) có khoảng 3.138 người.

Cho đến nay, chưa có số liệu công bố thống kê cụ thể của cơ quan có thẩm quyền về số lượng công chức là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ, Liên hiệp hội khoa học và kỹ thuật cấp Trung ương, cấp tỉnh…, quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ), có tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng về khoa học và công nghệ.

2.1.2. Viên chức khoa học và công nghệ

Theo quy định hiện hành, viên chức khoa học và công nghệ là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện “hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”[2]. Viên chức khoa học và công nghệ có các chức danh nghề nghiệp như sau: Chức danh khoa học gồm trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp; Chức danh công nghệ gồm kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư chính, kỹ sư cao cấp[3].

Theo kết quả điều tra, thống kê năm 2015 do Bộ Nội vụ tiến hành đối với 25 cơ quan Trung ương và 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước (danh sách theo phụ lục kèm theo) thì tổng số viên chức khoa học và công nghệ (theo 08 chức danh nghề nghiệp) là 43.849, trong đó, khối các cơ quan Trung ương là 32.881 và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 10.968.

Tỷ lệ viên chức khoa học và công nghệ theo 08 chức danh nghề nghiệp như sau:


Từ số liệu tổng hợp cho thấy số lượng viên chức khoa học và công nghệ giữ chức danh khoa học, chức danh công nghệ hạng I và hạng II rất thấp, đặc biệt là ở địa phương. Số lượng viên chức khoa học và công nghệ giữ chức danh khoa học, chức danh công nghệ hạng III chiếm tỷ lệ lớn nhất ở cả khối Trung ương và địa phương. Theo đó, tỷ lệ kỹ sư lên tới 58.06%, nghiên cứu viên là 21.55%. Tuy nhiên, cũng theo biểu thống kê, có thể thấy sự chênh lệch rât lớn giữa tỷ lệ nghiên cứu viên ở trung ương (28.46%) và địa phương (0.83%). Số lượng viên chức khoa học và công nghệ giữ chức danh khoa học, chức danh công nghệ hạng IV ở khối Trung ương chiếm tỷ lệ tương đối thấp, còn ở khối địa phương kết quả thống kê cho thấy hoàn toàn không có chức danh trợ lý nghiên cứu.

Số lượng viên chức khoa học và công nghệ là nam giới là 34.216/43.849 người, chiếm 78.03% tổng số lượng viên chức khoa học và công nghệ đã thống kê được. Tỷ lệ này ở khối các cơ quan Trung ương là 80%, và khối địa phương là 71.3%. Đây là kết quả cho thấy có sự chênh lệch rất lớn về giới tính, nếu như không phải những lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nhất thiết (chỉ có thể do nam giới thực hiện) thì rất cần có sự điều chỉnh về tiêu chí bình đẳng giới khi đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền về những quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ ở cả khối Trung ương và khối địa phương trong thời gian tới.

Về độ tuổi của viên chức khoa học và công nghệ: Số lượng viên chức khoa học và công nghệ có độ tuổi từ 31 đến 40 chiếm tỷ lệ lớn nhất (39.9%), tiếp đến là độ tuổi từ 41 đến 50 (25.8%) và 30 trở xuống (22.6%). Độ tuổi từ 51 trở lên chiếm tỷ lệ thấp nhất (11.7%). Nếu tính độ tuổi từ 41 trở lên là đã có khả năng tư duy độc lập trong nghiên cứu khoa học thì tỷ lệ này ở khối Trung ương là 41.4% và địa phương là 37.5%, đây là tỷ lệ khá hợp lý trong cơ cấu tuổi và khả năng cung ứng sản phẩm khoa học công nghệ đối với viên chức khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, tỷ lệ độ tuổi từ 40 trở xuống chiếm lớn nhất (62.5%), cũng cho thấy điểm chưa hợp lý là lực lượng nghiên cứu chính chưa đủ đáp ứng yêu cầu rất cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tình trạng thiếu hụt nhà khoa học giỏi, nhà khoa học đầu ngành hơn lúc nào hết là vấn đề đáng lo ngại do số lượng nhà khoa học có trình độ cao và có kinh nghiệm ngày càng giảm do đến tuổi nghỉ hưu, đặc biệt là các nhà khoa học đầu ngành, các tổng công trình sư đủ năng lực chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng quy mô quốc gia và quốc tế. Số lượng viên chức khoa học và công nghệ trẻ là lực lượng kế cận khá đông nhưng lại có khoảng cách quá xa (về độ tuổi, kinh nghiệm, năng lực, lòng say mê) với thế hệ đi trước.

Về trình độ học vấn, học vị: Tỷ lệ viên chức khoa học và công nghệ có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ chiếm 27.5% (ở địa phương, tỷ lệ này chỉ đạt 7%), trình độ đại học là 60.7%. Tỷ lệ có trình độ cao đẳng và tỷ lệ có trình độ trung cấp là 11.2%, tuy nhiên, con số này ở địa phương là khoảng 28%. Tỷ lệ này nói chung khá phù hợp với thống kê về tỷ lệ chức danh nghề nghiệp đã nêu trên. Tuy nhiên có thể nhận thấy về cơ bản trình độ học vấn, học vị của đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ trên cả nước chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhân lực Việt Nam nói chung và phát triển nhân lực khoa học công nghệ (trong đó có viên chức khoa học và công nghệ nói riêng)[4]. Vấn đề đặt ra đó là sự phân bố không đồng của đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ. Sự không đồng đều này thể hiện ở chỗ: số lượng viên chức khoa học và công nghệ có trình độ cao (tiến sỹ), số lượng viên chức khoa học và công nghệ giữ chức danh khoa học, chức danh công nghệ hạng I, hạng II, số lượng viên chức giữ chức danh khoa học chủ yếu tập trung ở Trung ương, đặc biệt ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và các trường đại học lớn. Nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao ở địa phương cũng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở 05 thành phố trực thuộc Trung ương, ở các địa phương khác rất ít người có trình độ tiến sỹ. Ở địa phương tập trung chủ yếu đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên (nhóm chức danh công nghệ). Chính sự phân bố không đồng đều đã dẫn tới hệ quả là thiếu hụt một lực lượng lớn các nhà nghiên cứu đảm nhiệm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở các địa phương, đặc biệt là các địa bàn xa xôi, miền núi.

Về trình độ lý luận chính trị: Tỷ lệ viên chức khoa học và công nghệ ở cả khối Trung ương và địa phương có trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân chiếm quá ít (khối Trung ương có 12.1% có trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân; khối địa phương có 7.50% có trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân).

 Về trình độ tin học, ngoại ngữ: Tỷ lệ viên chức khoa học và công nghệ ở cả khối Trung ương và địa phương có trình độ đào tạo về tin học và ngoại ngữ chiếm rất thấp (trình độ tin học từ trung cấp trở lên ở khối Trung ương là 9.89%, khối địa phương là 17.54%; trình độ ngoại ngữ từ cao đẳng trở lên ở khối Trung ương là 1.85%, khối địa phương là 9.08%). Hầu hết là có chứng chỉ về tin học và ngoại ngữ (con số thống kê tỷ lệ chứng chỉ tin học ở cả khối Trung ương và địa phương là 70.20% và 75.82%; đối với ngoại ngữ là 73.18% và 52.67%). Tỷ lệ “Còn lại”, nghĩa là chưa xếp vào nhóm đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng về tin học và ngoại ngữ cũng chiếm tỷ lệ khá lớn ở cả khối Trung ương và địa phương. So với yêu cầu, mục tiêu về trình độ, năng lực và quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với viên chức khoa học và công nghệ[5], thì những số liệu thống kê về trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ ở cả khối Trung ương và địa phương như nêu trên cho thấy đội ngũ này chưa thực sự đáp ứng yêu cầu theo các quy định của Đảng và Nhà nước đặt ra, cũng như yêu cầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong những năm vừa qua và giai đoạn sắp tới.

Từ kết quả thống kê, tổng hợp, phân tích nêu trên cho thấy về chất lượng đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ thực tế còn nhiều bất cập, hạn chế vì vậy trong thời gian tới cần có sự điều chỉnh hợp lý trong chính sách quản lý nhà nước về chức danh khoa học và công nghệ để đáp ứng yêu cầu, quy định tại các văn bản của Đảng và Nhà nước đối với phát triển khoa học và công nghệ nói chung; phát triển đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ nói riêng[6].

2.1. Về cơ chế, chính sách.

Trong thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với xây dựng, phát triển nhân lực khoa học và công nghệ. Pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã được ban hành khá đầy đủ, với nhiều nội dung mới đã tạo cơ sở pháp lý hiệu lực cao, đầy đủ, thống nhất và đồng bộ cho việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ, xem đó là khâu đột phá để thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ; phát huy vai trò, hiệu quả của các tổ chức khoa học và công nghệ chủ lực trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm; phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ; đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng, triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo hướng lấy mục tiêu và hiệu quả ứng dụng là tiêu chuẩn hàng đầu; chuyển các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và phương thức khoán sản phẩm khoa học và công nghệ; phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, các quỹ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; xây dựng đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài khoa học và công nghệ; thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì sự phát triển của đất nước.

Đặc biệt, Luật Khoa học và Công nghệ cũng đã tạo bước đột phá cơ bản trong hoạt động khoa học và công nghệ, đó là: đổi mới về tổ chức khoa học và công nghệ; đột phá về chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân lực khoa học và công nghệ và công nghệ; đổi mới về phương thức đầu tư cho khoa học và công nghệ; đổi mới về ứng dụng kết quả nghiên cứu và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ; đổi mới quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ thông qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các quỹ phát triển khoa học và công nghệ; hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ; vinh danh các nhà khoa học, lấy ngày 18/5 hằng năm là “Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam”.

Nhìn chung, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực khoa học và công nghệ đã đảm bảo:

Thứ nhất, được ban hành tương đối toàn diện, đảm bảo được tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong thể thống quy phạm pháp luật; bao quát khá đầy đủ các vấn đề về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, ưu đãi, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với nhân lực khoa học và công nghệ trong biên chế…

Thứ hai, các văn bản được ban hành nhìn chung đã phù hợp với đặc điểm, tính chất và tình hình hoạt động riêng của ngành khoa học và công nghệ, của từng đơn vị; vừa tuân thủ các quy định về quản lý nhân lực khoa học và công nghệ ở phạm vi quốc gia, vừa đáp ứng được đặc thù của lĩnh vực khoa học, công nghệ ở cấp cơ sở.

Thứ ba, các văn bản được ban hành với nhiều chính sách đổi mới và ưu đãi trong công tác quản lý, sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực khoa học, công nghệ, phù hợp với xu hướng đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm của pháp luật về quản lý, sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp, cụ thể:

Thứ nhất, một số quy định còn chưa thống nhất nên chưa thực sự tạo được môi trường thông thoáng nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu sáng tạo; sự đãi ngộ, tôn vinh đối với các nhà khoa học trong nước vẫn chưa xứng đáng với chất xám mà họ bỏ ra cho các công trình nghiên cứu.

Thứ hai, chính sách tiền lương hiện nay quy định đối với viên chức khoa học, công nghệ hoàn toàn không phù hợp với việc bảo đảm duy trì và phát triển đội ngũ viên chức khoa học, công nghệ. Sự cách biệt về tiền lương giữa các bậc lương, hạng chức danh nghề nghiệp chưa phản ánh thỏa đáng mức chênh lệch về trình độ cũng như đòi hỏi của công việc; việc nâng lương chỉ phụ thuộc vào thâm niên mà không chú ý đến hiệu quả hay thực chất công việc cán bộ nghiên cứu đảm nhận.

Thứ ba, chưa có các quy định về quy hoạch đội ngũ chuyên gia khoa học, công nghệ. Đây là lực lượng nòng cốt của hoạt động khoa học của đơn vị, là người định hướng, chủ trì và tập hợp lực lượng nghiên cứu của các lĩnh vực chuyên môn của đơn vị.

Thứ tư, chưa ban hành văn bản hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện và nội dung, hình thức thi hoặc xét, ban hành Quy chế xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức thuộc chuyên ngành khoa học và công nghệ để tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp cho viên chức khoa học và công nghệ. Rất nhiều viên chức khoa học và công nghệ đủ điều kiện để thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp theo quy định của Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV, nhưng hiện nay vẫn chưa được thi hoặc xét thăng hạng vì chưa có Quy chế xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức thuộc chuyên ngành khoa học và công nghệ để triển khai thực hiện. Điều này đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới quyền lợi của các viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ.

Thứ năm,do yêu cầu nhiệm vụ nghiên cứu cao nên một số trường đại học (trực thuộc các đơn vị) cần tuyển dụng nghiên cứu viên có trình độ tiến sĩ (tương đương giảng  viên). Tuy nhiên những người có trình độ tiến sĩ thường có nguyện vọng được tuyển dụng vào vị trí giảng viên do sự khác biệt trong chế độ đãi ngộ đối với giảng viên (phụ cấp nghề nghiệp, phụ cấp thâm niên nhà giáo, được khuyến khích hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn…). Ở một số cơ sở đào tạo bậc cao đẳng, đại học vẫn còn tâm lý coi trọng giảng viên hơn viên chức khoa học và công nghệ, và trên thực tế nếu làm giảng viên thì vừa có thu nhập thường xuyên, ổn định, cao hơn và vẫn làm nghiên cứu khoa học được; nhưng nếu xếp vào chức danh nghiên cứu viên thì ngược lại, do đó không thu hút được đội ngũ chuyên tâm, chuyên sâu với công tác nghiên cứu khoa học. Có trường hầu như không có nghiên cứu viên.

3. Đề xuất một số kiến nghị về quản lý và sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ.

3.1. Về công tác tuyển dụng viên chức khoa học và công nghệ:

Trong tuyển dụng viên chức khoa học và công nghệ, nên áp dụng hình thức thi tuyển kết hợp với phỏng vấn trực tiếp, kể cả đối với người tốt nghiệp bằng giỏi hay thạc sỹ, tiến sĩ. Điều này sẽ giúp mở rộng khả năng đánh giá chất lượng dự tuyển đầu vào, giúp tuyển dụng được viên chức có khả năng làm việc thực tiễn cao. Chỉ có như vậy mới rút ngắn thời gian để có được đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

3.2. Về công tác quy hoạch phát triển: 

Ngoài việc quy hoạch đội ngũ viên chức lãnh đạo, quản lý, chính sách quy hoạch phát triển đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ phải hướng đến việc quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức có chuyên môn giỏi, các chuyên gia đầu ngành, chuyên môn hóa ở các lĩnh vực. Hàng năm, các cơ quan có thẩm quyền cần phải đưa công tác quy hoạch thành nhiệm vụ thường xuyên, có tổng kết, đánh giá kết quả, tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp thích hợp. Việc lựa chọn viên chức đưa vào quy hoạch phải thận trọng, kỹ lưỡng, dân chủ, công khai, minh bạch trên cơ sở giới thiệu của viên chức khoa học và công nghệ trong cơ quan, đơn vị.

3.2. Về đào tạo, bồi dưỡng:

Ưu tiên đào tạo các chuyên gia, viên chức khoa học và công nghệ có trình độ cao, coi đây là những giải pháp có tính đột phá trong chiến lược phát triển đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ. Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng viên chức khoa học và công nghệ theo các lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên mà Đảng và Nhà nước đã xác định, phù hợp với kế hoạch phát triển của đơn vị, gắn liền với việc phân cấp các nhóm đối tượng viên chức khoa học và công nghệ và có chế độ đãi ngộ với các viên chức khoa học và công nghệ hoàn thành xuất sắc chương trình đào tạo, bồi dưỡng.

3.4. Về công tác sử dụng, bổ nhiệm và thay đổi chức danh nghề nghiệp, thay đổi  vị trí việc làm của viên chức khoa học và công nghệ:

Cần sớm xem xét, điều chỉnh việc bố trí, sử dụng, điều động, luân chuyển, biệt phái viên chức khoa học và công nghệ phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với năng lực, sở trường. Bố trí, đề bạt viên chức khoa học và công nghệ đúng lúc, đúng người, đúng việc; phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, tiêu chuẩn của từng chức danh nghề nghiệp của viên chức khoa học và công nghệ để lựa chọn người phù hợp; bổ nhiệm khi họ đang có khả năng cống hiến tốt nhất. Đề cao các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quy định rõ trách nhiệm của người có thẩm quyền quản lý, sử dụng viên chức trong bổ nhiệm và thay đổi chức danh nghề nghiệp, thay đổi vị trí việc làm của viên chức khoa học và công nghệ; tránh tình trạng bố trí, sử dụng viên chức khoa học và công nghệ không đúng người, đúng việc, đúng vị trí và sở trường.

Việc bổ nhiệm chức danh khoa học, chức danh công nghệ cần dựa trên các thành tích đạt được và đóng góp khoa học công nghệ, không nên chỉ dựa vào các tiêu chuẩn viên chức khoa học và công nghệ để bổ nhiệm chức danh, càng không nên chỉ dựa vào báo cáo thành tích của cá nhân mà chưa qua kiểm chứng trên thực tế (phải qua đánh giá hiệu quả hoạt động nghề nghiệp, với những sản phẩm cụ thể) để bổ nhiệm chức danh khoa học, chức danh công nghệ và thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức khoa học và công nghệ.

3.5. Về công tác thi đua, khen thưởng, xử lý kỷ luật, đánh giá và chế độ thôi việc đối với viên chức khoa học và công nghệ:

Cần sớm điều chỉnh và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các hướng dẫn liên quan đến chế độ thi đua, khen thưởng đối với viên chức khoa học và công nghệ; có hình thức vinh danh cho đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ một cách xứng đáng hơn, như Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao”.

Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng theo hướng giảm các thủ tục phiền hà đối với người được khen thưởng, bởi vì các nhà khoa học nói chung, viên chức khoa học và công nghệ nói riêng luôn có lòng tự trọng nghề nghiệp cao, không muốn thi đua khen thưởng theo kiểu “xin - cho”, nên các thủ tục hành chính rườm rà dễ làm họ nản lòng, mục đích thi đua, khen thưởng với họ không đạt được. Các mức thưởng và chế độ quy định tiền thưởng đối với các danh hiệu thi đua, khen thưởng cần sát với hiệu quả, chất lượng các công trình nghiên cứu, sản phẩm khoa học, công nghệ mà viên chức khoa học và công nghệ làm ra. Bên cạnh đó, việc nghiệm thu kết quả các công trình nghiên cứu nghiên cứu, sản phẩm khoa học, công nghệ cũng phải thật nghiêm túc để tương xứng với chế độ tiền thưởng trong công tác thi đua, khen thưởng.

3.6. Về công tác xử lý kỷ luật đối với viên chức khoa học và công nghệ, kiến nghị cần căn cứ vào đặc thù công việc và chuyên ngành hoạt động nghề nghiệp của viên chức khoa học và công nghệ để đưa ra những quy định về hình thức kỷ luật riêng trong quy chế làm việc, đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức nghề nghiệp nhằm quản lý viên chức khoa học và công nghệ chặt chẽ hơn.

3.7. Về tiền lương và các chế độ chính sách, đãi ngộ

Cần sớm có chính sách xếp lương và trả lương dành riêng cho viên chức khoa học và công nghệ làm việc trong lĩnh vực khoa học chuyên biệt, đặc thù. Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với những viên chức khoa học và công nghệ có cống hiến to lớn, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ chế trả lương cần gắn với kết quả, hiệu quả thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao đối với viên chức khoa học và công nghệ. Đây là điều rất quan trọng, bởi nếu thực hiện được thì không chỉ thu hút, giữ chân được nhân tài, chuyên gia đầu ngành về khoa học và công nghệ mà còn giúp giữ gìn phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ.

Cơ chế trả lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước phù hợp cũng sẽ góp phần quan trọng trong việc động viên viên chức khoa học và công nghệ (nhất là nhóm viên chức khoa học và công nghệ trẻ mới bước vào nghề) thu hút được nhân tài và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ.

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là một loại hình lao động đặc thù và giá trị không thể định lượng hết được, nhưng cơ chế trả lương, xếp lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với viên chức khoa học và công nghệ hiện nay hầu như không có gì ưu đãi, thậm chí thua thiệt so với các ngành khác (không có phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp, không có phụ cấp thâm niên...). Theo quy định hiện nay thì công chức cơ quan hành chính được hưởng chế độ phụ cấp công vụ đến 25%, tuy nhiên công chức là người đứng đầu và cấp phó của người đứng các đơn vị sự nghiệp công lập vừa phải nghiên cứu khoa học, vừa phải tham gia công tác quản lý lại không được hưởng chế độ đãi ngộ này. Vì vậy, Nhà nước cần ban hành chính sách ưu đãi, mức thu nhập thỏa đáng, tương xứng với trình độ và đóng góp của viên chức khoa học và công nghệ. Có chế độ động viên, tạo điều kiện đối với viên chức khoa học và công nghệ trẻ, tài năng về thu nhập, trang thiết bị, điều kiện làm việc, vinh danh… để xây dựng được đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

3.8. Về thể chế quản lý viên chức khoa học và công nghệ

Các bộ, ngành cần có kế hoạch rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức khoa học và công nghệ hiện hành để đánh giá một cách toàn diện nhằm phát hiện kịp thời những hạn chế, khiếm khuyết của từng văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức khoa học và công nghệ, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, như xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức khoa học và công nghệ phù hợp yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

TS. Trần Văn Ngợi  - Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước



[1]Theo cuốn sách Khoa học và công nghệ Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì biên soạn và phát hành năm 2003 và cuốn sách “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD),xuất bản tại Paris (Pháp) năm 1975

[2]Khoản 3, Điều 3 Luật Khoa học và Công nghệ 2013

[3]Điều 2, Thông tư 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01 tháng 10 năm 2014 Quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ

[4]. Điểm 2, Mục I Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 nêu rõ mục tiêu cụ thể là “Thông qua Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020, xây dựng nhân lực Việt Nam có cơ cấu trình độ, ngành nghề và vùng miền hợp lý. Cùng với việc tập trung phát triển nhân lực trình độ cao đạt trình độ quốc tế, tăng cường phát triển nhân lực các cấp trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển của các vùng, miền, địa phương”.

[5]. Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020; Quyết định số 418/QĐ-TTgngày 11/4/2012của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triểnkhoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020; Thông tư số 12/2012/TT-BNV ngày 18/12/2012 của Bộ Nội vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức.

[6]. Quyết định số 418/QĐ-TTgngày 11/4/2012của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triểnkhoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020 nêu rõ “Kiến nghị bổ sung chức danh tổng công trình sư, kỹ sư trưởng trong hệ thống ngạch viên chức khoa học và công nghệ” nhưng đến nay vẫn chưa được thực hiện; hoặc để quá lâu không tổ chức các kỳ thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề đối với viên chức khoa học và công nghệ.






























Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Nam Từ Liêm, Hà Nội

ĐT: (04) 62826778 - Fax: (04) 62826787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn