TÌM KIẾM
Số lượt truy cập
Thông tin chi tiết
Quan niệm về nhân lực khoa học, công nghệ của một số nước trên Thế giới
Khoa học và công nghệ không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định và phát triển nền kinh tế, xã hội của mọi quốc gia mà “mức độ phát triển của khoa học công nghệ tỷ lệ thuận với mức độ phát triển bền vững”. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, thế giới đã chứng kiến sự phát triển bứt phá mạnh mẽ của các nước công nghiệp mới; khả năng duy trì ổn định nền kinh tế-xã hội của các quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến (Đức) trước các căng thẳng về tài chính dẫn đễn khủng hoảng trong khu vực; và khả năng tái thiết, hồi phục phi thường sau thiên tai, khủng hoảng (Nhật). Trong đó, bên cạnh các sáng kiến trong công tác quản lý nhân lực khoa học công nghệ, các nỗ lực cải cách hành chính công và các biện pháp mở rộng phát triển nền kinh tế tri thức, góp phần quan trọng vào thành công trong công cuộc phát triển, tái thiết đất nước các quốc gia nêu trên, chính là đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ. 

Nhận thức được tầm quan trọng trong xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, trong đó có đội ngũ công chức, viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực khoa học công nghệ, bài viết sau đây phân tích tổng hợp quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của một số quốc gia trên thế giới (Đức, Nhật Bản, Xinh-ga-po, In-đô-nê-xi-a và Thái Lan). Qua đó đề xuất một số ý kiến để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đội ngũ công chức, viên chức khoa học và công nghệ của Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hướng tới phát triển bền vững. 

          1. Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của Nhật Bản và Đức

          Ở Nhật Bản và Đức, nhân lực khoa học công nghệ được hiểu theo trường phái quan niệm của khối các nước OECD. Theo đó, nhân lực khoa học công nghệ là những người đã tốt nghiệp đại học về mặt học vấn hoặc đã được tuyển dụng vào một nghề khoa học và kỹ thuật đòi hỏi ở mức cao về trình độ và tiềm năng sáng tạo. Thước đo học thuật là đầu vào cơ bản trong hệ thống nhân lực khoa học công nghệ, thông thường là bằng cử nhân đại học. Thước đo để tính toán nhu cầu của hệ thống nhân lực khoa học công nghệ chính là các tiêu chuẩn nghề nghiệp.

          Theo báo cáo nghiên cứu cấu trúc lao động các quốc gia OECD năm 2010 cho thấy, ở hầu hết các quốc gia thành viên OECD, bao gồm Nhật Bản và Đức, đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chiếm tỷ trọng 1/4 tổng số lao động, tập trung trong khu vực dịch vụ, nghiên cứu nhiều hơn so với khu vực sản xuất ra các mặt hàng thương mại, công nghiệp, tiêu dùng. Nhân lực khoa học và công nghệ ở Nhật Bản và Đức bao gồm 3 nhóm là: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/ kỹ sư nghiên cứu), nhân viên kỹ thuật và tương đương, và nhân viên phụ trợ trực tiếp trong nghiên cứu phát triển.

          Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của khối các quốc gia tham gia tổ chức OECD được định nghĩa dựa trên hai cơ sở là kết quả học vấn và căn cứ trên nghề nghiệp. Gần đây, trong các công trình nghiên cứu xây dựng khung đo lường nhân lực khoa học và công nghệ, một bộ số liệu mới[1] của của OECD đã bổ sung một cơ sở mới “kỹ năng” vào bộ Dữ liệu STAN Phân tích cơ cấu ngành nghề.

          2. Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của Thái Lan

          Theo quan điểm của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), nhân lực khoa học công nghệ là tổng số nhân lực có trình độ hoặc số nhân lực có trình độ hiện đang công tác hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong một tổ chức hoặc đơn vị, và được trả lương theo quy định cho các dịch vụ của họ. Nhóm này gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhóm nhân viên hỗ trợ.

          Là một thành viên của UNESCO, Thái Lan chủ yếu áp dụng quan niệm của UNESCO về nhân lực khoa học và công nghệ ngoại trừ một điểm đặc biệt, đó là Thái Lan coi trọng vai trò và năng lực thích ứng với khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Do đó, Thái Lan coi đây là một trong những mũi nhọn phát triển thúc đẩy toàn diện hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ.

          3. Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của Xinh-ga-po

          Quan niệm của Xinh-ga-po không phân biệt nhân lực khoa học công nghệ là công dân của Xinh-ga-po hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho Xinh-ga-po, phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước này và hưởng lương của Chính phủ Xinh-ga-po chi trả, thì họ chính là nguồn nhân lực của Xinh-ga-po. Và đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của Xinh-ga-po cũng như đa số các quốc gia tiên tiến trên thế giới, đều gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và tương đương và công nhân kỹ thuật. Chính phủ Xinh-ga-po đã sớm xác định được quan niệm quốc gia về nhân lực khoa học công nghệ và kiên trì thống nhất các chính sách, hoạt động trên mọi lĩnh vực phục vụ phát triển khoa học công nghệ. Xinh-ga-po xác định chiến lược phát triển xây dựng một hệ thống tương đối hoàn thiện từ thể chế, chính sách đến các chương trình học bổng, cơ chế tài chính, lương bổng, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn của quốc gia.

          4. Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của In-đô-nê-xi-a

          Quan điểm chỉ đạo về vai trò và tầm quan trọng của nhân lực khoa học và công nghệ tại In-đô-nê-xi-a đã chỉ ra rằng cải thiện năng lực khoa học và công nghệ của quốc gia nói chung và năng lực khoa học và công nghệ của đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ chính là trụ cột chính trong kế hoạch tổng thể thúc đẩy phát triển và mở rộng nền kinh tế của In-đô-nê-xi-a.

          Nguyên tắc chỉ đạo trong trong xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của In-đô-nê-xi-a là “think globally, act locally” [tạm dịch là “tư duy hòa nhập quốc tế, hành động duy trì bản sắc địa phương”].

          Tuy nhiên, trong nhiều văn bản luật của Chính phủ nước này chưa thể hiện rõ ràng định nghĩa về nhân lực khoa học, công nghệ mà thường chú trọng nhắc đến đối tượng “sinh viên tốt nghiệp đại học vào làm trong các ngành khoa học, công nghệ” và “đào tạo tại chỗ cho những người đang công tác trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trở lên thạo việc, lành nghề và hiểu biết rộng hơn”.

          5. Nhận xét chung về các trường phái quan niệm đương đại về nhân lực khoa học công nghệ

          Như vậy, trong số các quan niệm đề cập, có các quan niệm được thống nhất và sử dụng rộng rãi trong một số lượng lớn các quốc gia như khối các nước OECD, hoặc quan niệm được các tổ chức quốc tế có uy tín công nhận như UNESCO. Bên cạnh đó, không thể không kể đến quan niệm của một số nước trong khu vực ASEAN, từ các nước mạnh trên mặt trận khoa học công nghệ được thế giới công nhận như Xinh-ga-po đến các nước còn lúng túng và gặp khó khăn đang tìm lối thoát cho chiến lược xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ như Thái Lan, In-đô-nê-xi-a trong những năm gần đây.


Hình 1: Một số trường phái quan niệm cơ bản về nhân lực  KHCN

           Trong đó, có thể thấy một số điểm đặc trưng trong quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của một số nước trong khu vực Đông Nam Á như sau: 

Đặc trưng trong quan niệm về nhân lực
KHCN của một số nước trong khu vực Đông Nam Á

Xinh-ga-po

Quan niệm của Xinh-ga-po không phân biệt công dân trong nước hay ngoại quốc

In-đô-nê-xi-a

Nguyên tắc “Think globally, act locally” để định hướng phát triển nhân lực KHCN. Chưa thể hiện rõ định nghĩa hoàn chỉnh, chú trọng vào sinh viên tốt nghiệp và người làm việc trong ngành KHKT

Thái Lan

Tương tự quan niệm của UNESCO, ngoại trừ đặc điểm đề cao đội ngũ kỹ thuật viên trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh


Bảng 1: Đặc trưng trong quan niệm về nhân lực KHCN của một số nước  Đông Nam Á

          Bên cạnh đó, xét về chủ trương, đường lối, có thể thấy rằng các quốc gia nào chủ động làm rõ được quan niệm về nhân lực khoa học, và có chiến lược xây dựng đội ngũ, sử dụng đội ngũ đúng đắn, phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia sẽ đạt những bước tiến thần tốc. Ngược lại, các quốc gia nào còn lúng túng, buông xuôi, hoặc duy trì cách hiểu mù mờ không rõ lập trường quan điểm, ít đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ, sẽ tự “trói buộc”, kìm hãm sự phát triển của cả khối tư nhân, khối công lập và quan hệ hợp tác phát triển của quốc gia (Thái Lan, In-đô-nê-xi-a) với các đối tác quốc tế không chỉ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ mà còn trên nhiều phương diện hợp tác phát triển khác.

          Tiếp theo đó, việc đánh giá, so sánh các quan niệm khác nhau về nhân lực khoa học và công nghệ là một việc cần thiết để từ đó đối chiếu với nội lực quốc gia, tìm ra quan niệm phù hợp thống nhất trong quốc gia và phù hợp với thông lệ quốc tế. So sánh nhân lực khoa học công nghệ (theo định nghĩa của UNESCO) và nguồn nhân lực trong khoa học và công nghệ của OECD (HRST) cho thấy khái niệm của UNESCO có phần rộng hơn so với ngoại vi khái niệm HRST. Định nghĩa của UNESCO dựa trên các hoạt động khoa học và công nghệ, chẳng hạn như một nghề khoa học và kỹ thuật, không kể đến trình độ bằng cấp. Do vậy, nhân lực khoa học và công nghệ của UNESCO cũng bao gồm cả nhóm nhân viên phụ trợ, những người nằm ngoài phạm vi đề cập trong khái niệm HRST (trừ những người đạt chuẩn phân hạng giáo dục quốc tế ISCED hạng hoặc cao hơn và các nhân viên được tuyển dụng vào vị trí nhân viên hỗ trợ). Trong khi đó, ở Xinh-ga-po, chúng ta tìm thấy một quan niệm rất mới mẻ và “mở” về nhân lực khoa học công nghệ. Quan niệm của Xinh-ga-po không phân biệt công dân của Xinh-ga-po hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho Xinh-ga-po, phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước này và hưởng lương của Chính phủ Xinh-ga-po trả, thì họ chính là nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân khoa học công nghệ, và cụ thể hơn nữa, chính là nhân tài của Xinh-ga-po. Và đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của Xinh-ga-po cũng như đa số các quốc gia tiên tiến trên thế giới, đều gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và tương đương và công nhân kỹ thuật. Chính phủ Xinh-ga-po đã xây dựng một hệ thống tương đối hoàn thiện từ thể chế, chính sách đến các chương trình học bổng, cơ chế tài chính, lương bổng, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là nhân tài trong các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn của nước này.

          Xuất phát từ việc xác định rõ quan niệm về Khoa học và công nghệ, chính phủ Xinh-ga-po và một số quốc gia tiên tiến trong khối OECD (Nhật Bản, Đức) đã tạo được một “hiệu ứng tổng thể”, phối hợp rất tốt các bộ ngành trung ương để tiết kiệm nguồn lực, tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, khối tư nhân và mở rộng hợp tác với các đối tác nước ngoài, đưa mọi ngành nghề, mọi đối tượng trong xã hội tham gia vào xây dựng và phát triển nền khoa học và công nghệ quốc gia. Ngoài chính sách thống nhất, khoa học, phối hợp tốt khâu thực thi, các quốc gia đã thành công trong công cuộc xây dựng nền kinh tế tri thức và bồi dưỡng, vận dụng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ còn có một đặc điểm chung, đó là có cơ chế tài chính, tiền công, các biện pháp khuyến khích hậu hĩnh đối với các đối tượng có năng lực trong nghiên cứu, sáng chế khoa học, công nghệ và sáng tạo, đổi mới.

          6. Quan niệm và thực trạng về nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam hiện nay

Bộ Khoa học – Công nghệ vận dụng khái niệm nêu trong Luật Khoa học – Công nghệ đã có quy định cụ thể hơn về quan niệm nhân lực khoa học và công nghệ gồm các đối tượng “Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ nào; chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương”.

Tổng hợp các quan điểm, quy định nêu trong Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, quan niệm của Bộ Khoa học – Công nghệ và các quan niệm của đa số các nhà nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng nhân lực khoa học và công nghệ nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu như thể hiện trong hình dưới đây.

 

         Hình 2: Tổng hợp quan niệm về nhân lực  KHCN ở Việt Nam hiện nay

          Ở nước ta, trong suốt các chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, quan niệm “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” nêu cao vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức và nhất là nguồn nhân lực khoa học công nghệ đã và ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, trong giai đoạn kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng như hiện nay, mặc dù các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật luôn quan tâm và đề cao vai trò của nhân lực khoa học, nhưng trên thực tế, các chính sách còn chung chung, rời rạc chưa thống nhất[2], và hầu như chưa có chính sách cụ thể nào để thực sự trọng dụng, sử dụng và tôn vinh cán bộ khoa học[3]. Bên cạnh đó, hệ thống số liệu về nhân lực khoa học và công nghệ chính thức của nước ta hiện nay mới chỉ dừng lại ở phương thức “đếm đầu” đơn giản những người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên. Ngoài ra, kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ còn khá eo hẹp, nếu chia đều tổng kinh phí ra cho các viện nghiên cứu và các trường đại học thì chỉ đảm bảo kinh phí cho khoảng 10% số nhà khoa học, nghiên cứu viên thực hiện đề tài nghiên cứu, điều này đồng nghĩa 90% các nhà khoa học, học giả, nghiên cứu viên còn lại không có đủ kinh phí hỗ trợ để thực hiện đề tài nghiên cứu[4].

          Đối chiếu lại hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng, mặc dù về lý thuyết quan niệm của Việt Nam phù hợp với các nét chủ đạo trong quan niệm thế giới, và thể hiện tính mới trong việc bao gồm cả đối tượng “Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam” nhưng trên thực tế mới chỉ phản ánh được “tổng số nhân lực có trình độ”. Ngoài ra, số lượng cán bộ khoa học và công nghệ làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển hiện vẫn chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn trong tổng số cán bộ khoa học và công nghệ của nước ta. Bên cạnh đó, tư tưởng chuộng hư danh, trọng thành tích, dẫn đến xao lãng bản chất thực, trình độ thực, giấu dốt, không dám công khai học hỏi và chia sẻ ý kiến phát minh sáng tạo, chưa tạo được môi trường tích cực để học hỏi, phát minh, sáng kiến và bảo vệ các phát minh, sáng kiến. Chế độ đãi ngộ với những người tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ chưa thích đáng. Khu vực công còn chậm đón nhận và chưa bắt kịp với các hoạt động đổi mới, sáng tạo trong xã hội và khoa học, công nghệ dẫn đến chưa có chế tài phù hợp để tổ chức, quản lý và bồi dưỡng phát triển nhân lực khoa học, công nghệ.

          7. Một số ý kiến đề xuất

          Qua nghiên cứu quan niệm về nhân lực khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới, có thể rút ra một số gợi mở vận dụng vào bối cảnh Việt Nam như sau:

          -  Cần lựa chọn quan niệm nhân lực khoa học và công nghệ từ một trong các quan niệm tiên tiến và phổ biến trên thế giới và tích hợp các điểm đặc thù của quốc gia để xây dựng thống nhất quan niệm về khoa học và công nghệ, đảm bảo hòa nhập với quốc tế trong khi vẫn duy trì được bản sắc riêng của quốc gia.

          - Cần cải thiện thể chế kinh tế, tăng cường ngân sách cho giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật.

          -  Tạo ra phong trào toàn dân học tập để đẩy mạnh xây dựng xã hội tri thức và nền kinh tế tri thức.

          - Có chính sách hợp lý để sử dụng đội ngũ trí thức có trình độ cao đã nghiên cứu học tập ở nước ngoài, cả những người làm trong khối doanh nghiệp tư nhân. Đặc biệt, tạo cơ chế, khuyến khích động viên các nhà khoa học phản biện các vấn đề quan trọng trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển của đất nước và coi đó là một trong các đầu vào chính sách chính thức (hiện tại các ý kiến khoa học đa phần là nguồn tài liệu, thông tin tham khảo để xác định các yếu tố đầu vào trong hoạch định chính sách)

          - Sử dụng hợp lý các biện pháp kích thích lợi ích để tạo tính năng động, tích cực cho đội ngũ trí thức cả về vật chất và tinh thần.

          -  Cần mở rộng dân chủ trong học thuật và thông tin khoa học.

          - Ban hành các chính sách thu hút trí thức trẻ nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam.

          Tóm lại, đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động quản lý về kinh tế - xã hội, điều đó đòi hỏi càng ngày phải ứng dụng rộng rãi KHCN vào hoạt động quản lý của Bộ, ngành, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ đang đặt ra trong điều kiện mới. Tri thức khoa học và các thành tựu công nghệ cùng với việc lựa chọn được các biện pháp xây dựng, quản lý đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ, trong đó xây dựng và hoàn thiện hệ thống chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực khoa học, công nghệ là một mũi nhọn, sẽ tạo lên sức mạnh tổng thể và là nguồn sức mạnh bền vững./.

ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Giang

Viện Khoa học tổ chức nhà nước

Tài liệu tham khảo:

1. Albert Schein, Những bài học thần kỳ từ Xinh-ga-po, 1996.

2. Bộ Lao động Hoa Kỳ, Từ điển chức danh nghề nghiệp, (4th Ed., Rev. 1991)

3. Bộ Khoa học và Công nghệ, Sách khoa học và công nghệ Việt Nam, 2003.

4. Liên hợp quốc, Hệ thống chức danh nghề nghiệp Hàn Quốc, 2012

5. Nguyễn Quân, Bộ trưởng Nguyễn Quân nói về tình hình nghiên cứu khoa học, Báo điện tử chính phủ, 2013

6. OECD và Cục Thống kê Liên minh châu Âu Eurostat, The measurement of scientific and technological activities, Paris, 1995, p.69

5. OECD, Báo cáo Đánh giá chính sách đổi mới của các nước Đông Nam Á, 2013.

6. Văn phòng Đánh giá Công nghệ, Quốc hội Hoa Kỳ, Báo cáo “Một số cách nhìn nhận về vai trò của Khoa học và Công nghệ trong Phát triển bền vững”, OTA-ENV-609, tháng 9/1994.



[1] Sổ tay Canberra phiên bản mới, có tên gọi là ANSKILL của OECD

[2] Theo Trần Hồng Lưu, vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, 2011.

[3] Theo Thông tin khoa học và công nghệ, Sở KH&CN Hà Tĩnh, số 1/2014, tr.11-13

[4] Trích trong bài viết của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân nói về tình hình nghiên cứu khoa học, Báo Điện tử Chính phủ, 2013.






















Trang chủ | Giới thiệu | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ | ENGLISH
Giấy phép số: 53/GP-TTĐT cấp ngày 25/04/2012 của Bộ Thông tin & Truyền thông 
Bản quyền 2011 - Viện Khoa học tổ chức nhà nước 

Địa chỉ: Số 8 Đường Tôn Thất Thuyết, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

ĐT: (024) 6282 6778 - Fax: (024) 6282 6787

Email: vienkhtcnn@isos.gov.vn